Hiển thị các bài đăng có nhãn Cảm xúc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cảm xúc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 30 tháng 11, 2010

Thì là nở giữa vườn quê

Hôm nay đọc báo thấy xứ Bắc đang vào mùa hoa cải, rực rỡ những cánh đồng vàng, bỗng thấy lòng xôn xao. Chợt nhớ năm ngoái cả gia đình về nội vào dịp đông xuân, tiết trời se lạnh, hoa cải cũng nở vàng dọc các triền sông, ruộng lúa..., và cả một loài hoa khác nữa cũng nở vàng như thế, chân quê hơn và chẳng mấy ai nhắc tới - hoa thì là.

Thì là nở muộn hơn hoa cải, khi trời đã qua đi những ngày đông rét buốt và ủ ê dẫu chưa kịp nắng và vẫn còn làn sương lạnh bao trùm mỗi buổi sớm mai cùng những cơn mưa bụi đầu xuân lất phất. Đi giữ vườn quê, nhìn những chùm hoa nhỏ bé lóng lánh bụi mưa, cảm giác thanh bình cứ thế ùa về, lâng lâng và dịu nhẹ.

Thì là nấu riêu cá chép, khi vừa sôi bỏ nắm rau vào thì dậy mùi thơm lắm. Hoa thì là nở cả vườn như hoa dại, nhưng hoa cũng thật xinh, như một cô thôn nữ đang độ tuổi xuân, bình dị là thế nhưng cũng khiến người ta ngỡ ngàng. Con gái hồn nhiên bảo: "Mẹ ơi, ở quê hoa rau cũng đẹp". Ừ, hoa rau. Ở quê mấy ai trồng hoa cảnh, chỉ toàn là hoa rau thôi, nên cái đẹp cũng tự nhiên gần gũi lắm - vừa là cái tinh khiết của đất trời vừa chân chất hồn quê.


Thứ Tư, 10 tháng 11, 2010

Cha mẹ và những ngày xưa

Tôi sinh ra trong một gia đình có cha mẹ đều là giảng viên đại học. Nhà tôi nằm trong khu tập thể của trường ĐHSP, xưa kia vốn là khu biệt thự kiểu Pháp rộng lớn của cố giáo sư Nguyễn Thúc Hào, sau này được chia cho 5 nhà vốn là giảng viên, cán bộ của trường. Người ta vẫn bảo nhau rằng đây là khu đất thiêng, nhờ có hương hồn cụ Hào – vị giáo sư toán học đầu tiên của Việt Nam – phù hộ mà những đứa trẻ lớn lên trong khu nhà ấy đều học hành giỏi giang, đỗ đạt. Chẳng biết thiêng thật không, nhưng rõ ràng là trong khu nhà ấy, hầu như nhà nào cũng có con được học bổng du học nước ngoài, hay đạt giải học sinh giỏi quốc gia… Chuyện được chuyển thẳng vào trường chuyên hay đậu vài ba trường đại học, với chúng tôi là hết sức bình thường.

Cha mẹ tôi làm thầy, nhưng cả bốn anh chị em chúng tôi chưa có dịp xem cha mẹ đứng lớp một ngày nào cả, bởi lẽ chúng tôi đều có con đường đi riêng của mình. Ngày xưa, nghề giáo còn cơ cực lắm. Căn nhà khoảng 50m2 là nơi sinh sống cho cả 6 con người, mà sao không thấy chật, có lẽ vì thời đó đồ đạc còn ít quá, nhu cầu cũng giản đơn. Bù lại, chúng tôi có khu vườn thật rộng. Khu vườn yên tĩnh toàn lá hoa và cây trái – là nơi lưu giữ bao kỉ niệm tuổi thơ và cũng góp phần nuôi chúng tôi khôn lớn. Trong khu vườn ấy, mẹ trồng rau - những giàn đậu quả đu đưa xanh biếc, cà chua chín mọng đỏ au, cải xanh rờn từng luống, mồng tơi leo ven bờ rào với những chùm quả tím được chúng tôi lấy làm mực bôi lem luốc cả bàn tay, rau thơm, rau dền và thật nhiều rau lá khác. Trong khu vườn ấy, cha tôi làm những giàn bầu bí mướp, ngày ngày cha thụ phấn, tôi nằm trên cái võng đung đưa dưới bóng mát của giàn cây, nhìn theo ong bướm lượn lờ và đếm quả non trên giàn. Nghĩ lại thuở ấy thế mà hay, toàn được ăn rau sạch của nhà trồng. Và cũng trong khu vườn ấy, chị em tôi trồng hoa. Mỗi lần mưa xuống, tóc tiên nở hồng cả lối đi, mà xứ Huế vốn mưa nhiều - đông cũng như hè, nên con đường hoa trong sân nhà tôi luôn rực rỡ. Tóc tiên dây cũng leo lên cái giàn tre nho nhỏ, nở hoa đỏ thắm. Những cành sao nhái mảnh mai ngày ngày đón nắng như những cánh bướm chấp chới bay lên. Thạch thảo tím cả sân nhà, và có những bụi hoa tôi chẳng biết tên cứ âm thầm nở, vãi hạt mỗi đợt hoa tàn để vườn tươi mãi sắc hoa.

Cha mẹ ở trường làm nghề giáo, về nhà lại phải làm thêm đủ thứ khác để nuôi con – mà vào thập niên 1980, hầu như ai chả vậy. Tôi nhớ nhà chúng tôi cũng nuôi heo, nuôi gà, nuôi vịt, nuôi cả chim bồ câu… Rõ là trong cái thời khốn khó ấy, chúng tôi vẫn cần cả bánh mì lẫn hoa hồng. Tôi nhớ những con gà mái cục ta cục tác dẫn con đi kiếm mồi, đàn gà con lông vàng óng ả mà chị em chúng tôi giành nhau mỗi đứa sở hữu vài con. Mỗi buổi sáng mai, anh em tôi chạy ra chuồng xem gà đẻ, chờ quả trứng hồng xinh lăn ra là đưa tay đón lấy, đem vào nhà. Chim câu thì sống trong cái chuồng xinh xắn áp mái nhà, hàng ngày vẫn tự do bay đi bay về, nhưng rồi một hôm cha tôi quên cất thang, đêm kẻ trộm vào bắt mất lũ chim, chúng tôi tiếc ngẩn ngơ. Sau này, nhà tôi lại còn nuôi ong nữa. Sáng sáng xem đàn ong kéo nhau đi tìm mật thật là vui mắt. Rồi đến ngày lấy mật – tay cầm tảng sáp dẻo quánh, mật ong nguyên chất thơm lừng, ngon hơn mọi thứ mật ong mà tôi đã từng ăn.

Ngày ấy, mỗi nhà thỉnh thoảng còn có bột mì của Liên Xô viện trợ. Cứ sáng sáng phải ăn bánh bột mì rán đến phát chán, mà không ăn thì còn biết ăn gì? Thỉnh thoảng cha làm bánh xèo, ngon đến lạ. Bây giờ tôi vẫn nhớ cái cảm giác ngồi bên bếp lửa chờ cha đổ chiếc bánh mới ra khỏi chảo, vừa ăn vội vừa xuýt xoa vì nóng. Mẹ làm kem và yaourt bỏ hàng cho quán, làm được 10 thì lũ con ăn hết 5, thôi thì cũng chịu khó để có thêm đồng ra đồng vào, con cái được bồi dưỡng chút ít cho đỡ thèm. Lại nhớ những buổi tối ăn cơm xong, cha mẹ chở nhau sang Đông Ba đi chợ đêm, vì lúc ấy cá theo ghe thuyền về từ cảng biển Thuận An vẫn còn tươi rói, vừa rẻ vừa ngon.

Ngày ấy khổ mà vui.

Vẫn nhớ mãi cái sân chung của khu tập thể, lũ trẻ con quần đùi áo cộc chơi đủ thứ trò vào những buổi chiều mát hoặc buổi trưa trốn ngủ. Nhớ cây trái vườn nhà trĩu quả đượm vị ngọt tuổi thơ. Gần nhà tôi có một cái hồ, xưa toàn lục bình trôi, chị em tôi ra lấy về chơi đồ hàng. Sau đó hồ bị lấp, từ đó mọc lên một khách sạn khang trang, lũ trẻ chúng tôi như thấy thiêu thiếu một cái gì. Sang thập niên 1990, nhà nhà bớt khổ, bắt đầu có của ăn của để. Khu nhà tôi đâm ra có giá với vị trí mặt tiền đường lớn. Rau cỏ thưa thớt dần, chẳng còn nghe tiếng gà gáy như xưa. Những căn nhà được hóa giá trở thành tài sản riêng, bốn gia đình quanh tôi đều bán nhà dời đi cả, chỉ nhà cha mẹ là vẫn còn đó, nằm lọt thỏm giữa khu khách sạn sầm uất của thành phố. Nhiều người vẫn đến gặp cha mẹ tôi gạ gẫm mua nhà để xây khách sạn, nhưng mảnh đất đã gắn với quá nhiều tình yêu và kỉ niệm, cha mẹ đâu thể đi xa. Anh chị giúp cha mẹ xây lại nhà trên đất cũ, rộng rãi và khang trang, nhưng mảnh vườn xưa đã bị dùng để xây dựng phần nhiều, làm tôi thấy lòng nhớ quá một tuổi thơ đẹp đẽ.

Trong suốt những năm tháng ấy, cha mẹ tôi vẫn làm thầy. Những dịp 20-11, học trò khắp nơi kéo về chia vui. Mẹ tôi có những người học trò dạy từ thuở xưa nay đã thành danh vẫn không quên cô giáo cũ. Cha tôi về hưu vẫn được trường mời theo nghiệp giảng – mà cha không thể bỏ bởi đứng lớp là một niềm vui.

Cha mẹ về hưu đã lâu rồi, cuộc sống nhẹ nhàng hơn xưa, con cái đều ổn định. Mảnh vườn tuy không còn rộng nhưng cũng đủ để cha mẹ trồng ít rau xanh thư giãn, thêm chút hoa lá làm đẹp nhà. Cha vừa đón nhận một niềm vui: được Nhà nước trao tặng danh hiệu “Nhà giáo nhân dân” – một món quà tinh thần quý giá với người suốt đời tâm huyết cùng nghề giáo như cha mẹ tôi. Còn tôi, dẫu có đi xa, vẫn luôn mơ về ngôi nhà của ngày xưa và cả ngày nay, nơi tôi đã có những ngày tháng đẹp với đầy tình yêu và nỗi nhớ.

Chủ Nhật, 19 tháng 9, 2010

Thời hoa mộng

(Tặng những ai đã một thời dưới mái trường Quốc Học)

Năm tháng dẫu trôi đi, trong ký ức mỗi người ai chẳng lưu luyến một thời hoa mộng?

18 năm về trước, tôi đón sinh nhật tuổi 15 bằng lễ khai giảng ở một ngôi trường hồng bên dòng sông Hương – ngôi trường mà mãi đến những năm sau này tôi vẫn không thể quên tuổi hoa niên đẹp đẽ dưới tán cây xanh và trên những con đường xao xác lá; ngôi trường rộng và đẹp luôn vương vấn nơi tận cùng nỗi nhớ, làm thức dậy bao kỷ niệm xưa.

Ôi chao là nhớ…


Tôi nhớ những cây cổ thụ rợp mát sân trường buổi chào cờ để đám học trò không bị nắng; nhớ những cây bàng chạy dài trên lối nhỏ với đám quả khô lăn lông lốc và thảm lá đỏ vàng mỗi độ thu sang. Bao quanh bốn phía khu nhà chơi là những tán phượng già với vòm hoa rưng rưng màu lửa cháy; và những vườn xoài, bưởi, mít… râm ran tiếng ve mà từ ngoài đường nhìn vào đã thấy bát ngát một màu xanh.

Tôi nhớ cái sân vận động to và rộng của trường tôi – nơi chúng tôi cổ vũ các nam sinh đá bóng với bao cảm giác hồi hộp và hân hoan, nhưng cũng là nơi lũ học trò đến khốn khổ vì những vòng chạy bền quanh đó vào giờ thể dục. Tôi còn nhớ mảnh vườn sinh vật học với những buổi lao động đầy kỷ niệm, mà cái kỷ niệm vui nhất là đám ma quỷ tinh nghịch chúng tôi đã bảo vệ tư tưởng "nhổ cỏ không nhổ tận gốc" khiến thầy chủ nhiệm cũng phải bật cười.

Tôi nhớ những dãy hành lang dài hun hút, mà ở Huế, có nhiều lối đi nhỏ như thế, dài hun hút như thế "cho mắt em sâu". Những dãy hành lang ấy được bao kín chỉ trừ ra mấy ô cửa sổ, nên dẫu trời có đổ nắng to thì cũng chỉ có vài vạt nắng lung linh ngoài cửa lớp, chưa đủ sức tràn vào căn phòng mát dịu, mà sóng sánh bên cửa kính, đọng lại thành màu "nắng thủy tinh". Phòng học nào ngoài gian chính để học cũng có thêm một gian phụ - nơi chúng tôi vẫn trốn thầy giám thị những hôm không mặc đồng phục, nơi chúng tôi tụ tập nhìn ra mảnh sân sau đầy lá và bàn tán đủ thứ chuyện trên đời, cũng là nơi chúng tôi đã đứng co cụm trong góc lớp, lo lắng nhìn những tấm cửa kính rung bần bật rồi vỡ tan, những cành bằng lăng gãy nát và thảm hoa tím đẫm nước tơi tả đến xót lòng trong cơn lốc kèm mưa đá đầu mùa hạ 1993.

Nhưng nhớ nhất, có lẽ vẫn là những hàng cây điệp anh đào đem đến cho Quốc Học cả một khoảng trời hồng xao xuyến làm bay bổng những ước mơ – màu hoa đã tạo thành bản sắc mà không ngôi trường nào có được, để lại nỗi nhớ đến nao lòng trong tâm hồn người đã đi xa. Mỗi độ tháng 2 về, sân trường lại đầy cánh hoa rơi – những thảm hoa quét rồi lại rụng, vương vấn dưới chân đi khiến những mối tình học trò càng thêm thi vị.

Tôi tin rằng đã là học sinh Quốc Học thì dù theo khối tự nhiên, ít nhiều trong mỗi người đều có chút lãng mạn, mà cái sự lãng mạn ấy cũng đầy chất Huế: sâu sắc, trong trẻo và nhẹ nhàng. Mà không lãng mạn sao được, khi mỗi buổi học nhìn qua khung cửa sổ là bắt gặp cả sắc mây hồng. Những hôm mưa bụi rơi, cánh hoa càng thêm hư ảo, lắng cả trời bâng khuâng.

Cái màu hoa ấy, tôi và bạn đã đứng rất lâu trong thứ nắng ban mai của buổi giao mùa để "lưu khoảnh khắc vào tim". Bây giờ bạn ở trời Tây, có da diết nhớ mặt đất và bầu trời đầy sắc hồng lưu luyến?

Điệp anh đào trong sân trường Quốc Học (ảnh: sưu tầm từ Internet)

Quốc Học - sân trường ngày hoa rơi (ảnh: sưu tầm từ Internet)
Tôi nhớ mãi buổi chia tay ngày ấy, buổi gặp mặt cuối cùng của cả lớp trong tiếng cười vui rồi lặng lẽ ra về dưới ánh hoàng hôn, để lại trên sân trường một chiếc ghế đá có khắc tên lớp và niên khóa làm kỷ niệm. Bức ảnh ấy, tôi không còn giữ, bởi cơn lũ lịch sử 1999 đã cuốn đi rồi; nhưng những lần trở lại trường, tôi vẫn tìm chiếc ghế đá của chúng mình một thuở.

Bạn đi, tôi cũng đã đi, dẫu không đi xa như bạn thì khoảng trời hồng kia cũng chỉ còn trong hoài niệm. Những cánh hoa vương trên tóc, vương trên áo, vương trên những trang giấy trắng học trò, để bây giờ cứ đọng mãi trong tim.

Và tôi vẫn thèm được trở về sân trường Quốc Học một ngày chớm sang xuân, để tìm lại một thời hoa mộng…

5.2008 

Thứ Năm, 9 tháng 9, 2010

Đông hoài niệm

Đã mấy năm rồi không thấy mùa đông
Một buổi sớm, gió tràn qua khe cửa
Một thoáng rưng rưng trôi vào miền nhớ
Nghe con tim khắc khoải gọi mùa về.

Nơi góc trời đêm lạnh giá lê thê
Vẫn lấp lánh một vì sao không tắt
Nhớ làm sao bàn tay anh siết chặt
Ngỡ trong lòng ấp ủ cả mùa đông.

Không thể quên ngày gió lên biển động
Tay trong tay, nghe lửa nổi bập bùng
Đông không lạnh vì tim em rất nóng
Cháy tình yêu trong đôi mắt anh.

Em sẽ còn gì khi xa cách mùa đông
Chỉ còn chút mênh mang hoài niệm vỡ?
Không, vẫn là anh nắm bàn tay em bé nhỏ
Nghe bồi hồi như một thoáng sen thơm.

Đông đã xa rồi, xin em đừng khóc
Nhớ đêm đêm nghe tiếng gió thầm thì
Em vẫn ấm trong tay anh hạnh phúc
Cho dẫu Sài Gòn không có mùa đông.

(Tặng anh với những mùa đông kỷ niệm, 22/11/2007)

Thứ Tư, 8 tháng 9, 2010

Miền nhớ

(Thay lời bạn tôi...)
 
Bóng bay ai thả lên trời?
Tôi đan kỷ niệm một thời ấu thơ
Ai về cho gửi giấc mơ
Trăng vàng đêm vắng ngẩn ngơ thuở nào.

Em qua lối nhỏ xôn xao
Heo may vờn tóc, ngọt ngào thu rơi
Mắt nhung đăm đắm mây trời
Chìm trong lặng lẽ, mùa trôi theo mùa.

Chiều nay trời lại đổ mưa
Lòng quay quắt nhớ ngày xưa tan trường
Tương tư khắc chữ lên tường
Nhớ thương rải khắp nẻo đường em qua.

Thu neo quãng vắng la đà
Ngày xưa còn bé ta là của nhau
Ngây thơ nào biết gì đâu
Bây giờ mới thấy thẳm sâu là tình.

Đêm nay còn lại một mình
Mới hay ta đã vô tình lãng quên
Bên trời trăng khuyết vừa lên
Mối tình không thể gọi tên quay về

Tan trong ảo ảnh tóc thề
Giật mình tỉnh giấc, cơn mê qua rồi
Sao rơi lặng lẽ bên trời
Em là kỷ niệm, nghẹn lời nhớ thương.

Sài Gòn, mùa xuân 2008

Nhớ mùi hương nấm mối

Mười năm sống ở Sài Thành làm ký ức tạm lãng quên hương nấm mối, chợt một ngày cuối hạ trở về chốn xưa, được gợi ý ăn một niêu cơm nấm mối, lại thấy ngày xưa trở về trong một thoáng bâng khuâng.

Ừ nhỉ, nấm mối – thứ nấm rất ngon chỉ có trong khoảng một tháng vào dịp chớm thu cuối hạ - ai đã ăn sao có thể quên mùi hương thơm phức và vị nấm rất dịu tan nơi đầu lưỡi. Nấm đem nấu canh cũng ngon mà nấu xôi thì càng tuyệt. Nấm mối có nhiều nhất ở miền Đông và Tây Nam Bộ, đặc biệt là Bến Tre, nhưng nấm mối ở Huế lại có hương vị rất đặc biệt khó mà quên được.

Sang tháng 9, khi những cơn mưa cuối hạ đổ xuống và những hồ sen trong thành phố vội vã nở những bông cuối cùng, trong thời khắc giao thoa của hương sen nở muộn và hương thanh trà đầu mùa chính là lúc nấm mối có nhiều nhất. Mùa nấm mối ở Huế muộn hơn phương Nam, có lẽ do đặc điểm địa hình và khí hậu. Người ta kể rằng, con mối nhả ra một thứ men nào đó để nấm mọc lên nên gọi là nấm mối. Nấm lên nhanh trong vài ngày rồi lại mọc từng đợt mới, dưới vạt đất mà ta thu hoạch nấm thế nào cũng có những tổ mối.

Bởi bản chất nấm mối đã thơm ngon nên khi chế biến các món ăn từ loại nấm này người ta không nêm nhiều gia vị, sợ át đi hương vị tự nhiên của nó. Nấm mối đem nấu cháo hay đổ bánh xèo ăn nóng cũng thú, đặc biệt là những ngày mưa “buồn như chấu cắn”. Sang hơn thì lấy nấm mối xào với thịt gà hay nấu lẩu, thứ gì cũng có cái ngon riêng.

Một ngày đầu tháng 9 về Huế chơi, vào nhà hàng Chân Đồi ngắm cảnh thiên nhiên yên tĩnh và ăn cơm nấm mối cùng gà kiến hấp hành, nghe người chủ quán nhắc đến mùa nấm mối mới sực nhớ ra những kỷ niệm rất xa xưa tưởng chừng như đã phôi pha.

10. 2008

Mùa lá

Chẳng biết tự bao giờ, tôi yêu cái khoảng thời gian trời bắt đầu đổi gió và những chiếc lá lìa cành vương đầy trên lối đi. Tôi gọi đó là mùa lá.

Mùa lá thấm đẫm trong tâm hồn tôi một cách vô thức, nhưng nó thực sự trỗi dậy mãnh liệt và thiết tha vào tuổi hoa niên. Ở Huế, hầu như con đường nào cũng rợp bóng cây xanh, nên cái thời khắc lá rơi nó mênh mang lắm. Trời thì sóng sánh màu nắng, cũng có khi buồn ủ ê. Lá rơi chẳng vội vàng, hiếm khi gặp những đợt lá trút ào ào rồi theo gió xào xạc cuốn đi, mà nhẹ nhàng rơi xuống trong tĩnh lặng, thảng thốt như một cái vỗ vai bất chợt. Lá cứ nằm yên như thế, chồng lớp bên mỗi gốc cây, hứng lấy giọt mưa chiều và sương mai buổi sớm, trông như những đôi mắt ướt.

Mà những đôi mắt ướt, bao giờ cũng đẹp u hoài, lãng mạn và long lanh.
 
Đi trong mùa lá, lòng không thao thức làm sao được? Cũng chính vì cái mênh mang đó mà tôi kết câu thơ của Huỳnh Văn Dung:

“Giữ chút gì rất Huế đi em
Nét duyên là trời đất giao hòa
Dẫu xa một thời anh gặp lại
Vẫn được nhìn em say lá hoa.”

Mùa lá ở Huế đã bắt đầu từ độ tháng 3. Thật lạ, lá thì phải rơi vào mùa thu chứ? Nhưng nếu không có cái lạ lùng ấy thì làm sao Huế có thể mênh mang từ cuối xuân được? Sự độc đáo ấy bắt nguồn từ một loài cây đặc trưng của Huế: cây ngô đồng.

Ngô đồng rụng lá từ cuối xuân, rồi bắt đầu một mùa hoa lộng lẫy kiêu sa. Những ngày ngô đồng rụng lá và ra hoa đã gợi không biết bao nhiêu cảm hứng của các thi nhân. Lá ngô đồng hình trái tim, to bằng bàn tay. Những ngày hiu hắt gió, sương giăng trên phố phường, giăng lên cả những bức tường rêu phủ, những trái tim vàng bay lả tả, lãng mạn cực kỳ.

Sang hè, Huế lại bắt đầu một mùa lá nữa, lá mỏng mảnh nên mờ cả lối đi: mùa phượng về.

Cũng vì phượng Huế rụng bớt lá trong mùa hè nên hoa càng thêm thắm, cháy rực cả góc trời như những vòm lửa rưng rưng. Nhưng nếu bạn vì yêu hoa phượng mà tìm đến đường Phượng Bay thì sẽ thất vọng tràn trề đấy. Hoa phượng đẹp nhất ở những hàng cây hai bờ Nam Bắc sông Hương, còn đường Phượng Bay thì chỉ đẹp lá mà thôi. Cũng chính vì lá cây mùa hạ mà những con đường Thành Nội như thẳm sâu hơn, lá quấn quýt bước chân nên đi hoài không hết lối.

Tháng 10 sang lại đem đến cho Huế một mùa lá khác.

Thu về nên rất nhiều loài cây rụng lá. Tôi cùng bè bạn đi suốt những con đường mênh mang lá cây: Đội Cung, Lê Lợi, Điện Biên Phủ, Ngô Quyền, Trần Cao Vân… - những con đường đưa chúng tôi đến trường rồi lại tiễn về nhà. Tôi nhớ những buổi chiều tan học, mây nhuốm màu hoàng hôn, mà lá cũng thắm vàng như thế, xao xác trên con đường Ngô Quyền sau lưng trường Quốc Học và Hai Bà Trưng, trước giảng đường Đại học Y khoa. Tôi nhớ những cây sồi già ở đường Lê Lợi, những cây bàng đỏ rực lá thu. Những ngày này đi theo con đường lên lăng, sẽ thấy rừng thông phớt chút ánh vàng. Những sân chùa lá đổ, chú tiểu không kịp quét, nhất là chùa Từ Hiếu lá phủ đầy những sân rêu. Mùa lá đã làm không ít trái tim học trò thao thức.

Những mùa lá ấy đã cùng tôi đi hết thời thơ ấu của mình rồi khựng lại ở tuổi thanh xuân. Những người bạn dần xa, chia tay trong lặng lẽ. Tôi cũng đi rồi, còn đâu những ngày xưa đạp xe trên xác lá mùa thu – cái thời khắc qua nhanh như chớp mắt để còn nhường chỗ cho những ngày bão lũ.

***

Tôi cảm Hà Nội trước Sài Gòn nhưng “nàng thu” Hà Nội lại khiến tôi phải đợi chờ lâu nhất, bởi chỉ mới cách đây 3 năm tôi mới có dịp ra Hà Nội vào đúng mùa thu.

Thu Hà Nội đi vào trái tim tôi từ ngày còn đi học qua những vần thơ, lời nhạc, như người ta chỉ nghe giọng nói ngọt ngào qua điện thoại chứ chưa một lần gặp mặt mà thầm yêu trộm nhớ. Bài thơ đầu tiên làm tôi xao xuyến về một Hà Nội thật đẹp, thật cổ kính, thật nồng nàn và thật sâu lắng là bài Hà Nội Phố của Phan Vũ, dài dằng dặc 25 chương, với những “cánh cửa sắt lâu ngày không mở”, “những nụ hôn xanh ngắt trên cành”, những “cô hàng hoa – gánh mùa thu qua cổng chợ”, “những ngọn đèn mờ - trên nóc phố - mùa trăng không tỏ - tiếng rao đêm - lạc giọng - thờ ơ...”

Và mùa lá đến cũng thật khẽ khàng:

“Ta còn em màu xanh thật đêm
Ngôi sao lẻ
Xào xạc chùm cây gió
Chiếc lá lạc vào căn xép nhỏ
Lá thư quên địa chỉ
Quay về...”

Nhưng rồi một thoáng ngỡ ngàng chợt đến khi mùa thu Hà Nội lại không nhiều lá rơi như những ngày xuân lạnh mà tôi đã chứng kiến hơn 10 năm về trước. Sau này tôi có dịp kiểm chứng một lần nữa và nhận ra rằng: thu Hà Nội làm tôi say bởi hương hoa, hương cốm, bởi thứ gió heo may xuyên suốt lớp nắng dịu dàng, chứ cái độ lá rơi tầng tầng lớp lớp rải thảm trên khắp các con đường Phan Đình Phùng, Hoàng Diệu, Tràng Thi, công viên Bách Thảo, bờ hồ… phải là lúc xuân sang. Chẳng biết tôi nói có đúng không, hay đất trời đỏng đảnh dỗi hờn mà chọc ghẹo tôi đấy thôi?

Tôi phải thừa nhận với một niềm ghen tỵ thầm kín rằng mùa lá Hà Nội đẹp quá, đẹp nhất trong những thành phố Việt mà tôi đã đi qua. Dẫu vậy, nếu cho tôi đổi lại quá khứ thì tôi sẽ không đổi đâu, vì mùa lá mỗi nơi đều để lại trong tôi những ký ức ngọt ngào (tôi chẳng còn nhớ nổi liệu có đắng cay nào không nữa). Mùa lá Hà Nội không kéo dài, chắc chỉ chừng hơn một tháng thôi, mà may thay tôi lại “ăn dầm ở dề” tại Hà Nội suốt cả một tháng ấy 13 năm về trước, rong ruổi phố phường bằng một chiếc xe đạp mượn của đứa cháu dì tôi.

Tôi có những người bạn cũ ở Hà Nội, bạn mới quen, rồi bạn anh trai tôi… Chúng tôi đi qua mùa lá đổ, lòng lắng lại vì những khoảnh khắc đẹp giản dị không nằm trong thi ca: những chiếc lá trút ào ạt sau cơn gió mạnh, mang theo những giọt nước mưa ẩm ướt và thứ khí lạnh khiến người ta khe khẽ rùng mình; những chiếc lá nổi lềnh bềnh trên rãnh nước; những chiếc lá đậu trên quang gánh chị đồng nát đang băng qua đường…, để rồi tiếc nuối nhìn đống lá cuốn theo tiếng chổi sàn sạt dẫu biết rằng rồi sẽ có những cơn mưa lá tiếp theo.

Không hẳn là phải đi trên những con đường lá ấy lòng mới đầy cảm xúc. Có khi vào một đêm trăng lạnh, đứng ngoài ban công nhìn chiếc lá chao xuống mặt đường chênh vênh trên nắp cống, lòng lại dâng lên một nỗi xao xuyến run rẩy rất đỗi mơ hồ.

***

Rồi những mùa lá khác cũng đến – mùa lá Sài Gòn.

Tôi vốn không nghĩ đến việc có một mùa lá trong lòng Sài Gòn phố khi đặt chân đến mảnh đất phương Nam nắng gió này, nên khi mùa lá ập đến, tôi thấy ngỡ ngàng lắm, lạ lẫm lắm. Nhưng lá đã chẳng rơi suốt con đường Trần Quốc Thảo là gì? Tháng 12 năm ấy, trời thật lạnh, lạnh đến mức tôi phải bất ngờ vì đã lỡ hình dung một thành phố “không có mùa đông”. Nhưng rồi cũng chỉ có những thoáng lạnh ấy thôi, chứ tháng 12 vẫn trở về với một Sài Gòn rất đẹp: trời trong xanh, nắng vàng nhạt, gió phiêu diêu trên các nẻo đường cuốn lá bay theo. Mùa lá ở Sài Gòn không mênh mang như Huế, không xao xác như Hà Nội, mà lại rất trẻ trung và tinh nghịch: những chiếc lá còn xanh đua nhau trút xuống, không ngoan ngoãn ngủ yên trên vỉa hè mà đuổi nhau hối hả. Thì đấy, Sài Gòn năng động trong từng chiếc lá, cái kiểu như muốn đánh động để người thờ ơ cũng không được lãng quên.

Tôi quen anh vào mùa lá đầu tiên ở Sài Gòn. Còn nhớ lần đầu tiên hò hẹn, anh hỏi tôi muốn đến nơi nào, tôi trả lời: “một nơi thật xanh”. Ba mùa lá trôi qua đủ để gắn kết hai con người ngang bướng lại với nhau. Chúng tôi chuyển nhà đến gần khu Thảo Cầm Viên. Tôi không còn đi qua con đường Trần Quốc Thảo để đến chỗ làm việc nữa, nhưng cây đường Nguyễn Bỉnh Khiêm đủ để làm tôi yêu quý thêm mùa lá của Sài thành.

Thảo Cầm Viên, Dinh Thống Nhất, công viên Tao Đàn, công viên Gia Định… là những nơi mùa lá khoe mình dưới những gốc cây cổ thụ. Đến những nơi ấy, có thể ngồi ngắm lá trong tĩnh lặng, tách biệt với cái ồn ào của phố xá ngoài kia, nhưng lại thấy tiêng tiếc những chiếc lá me bay xoay giữa trời xao xuyến trên những con đường tấp nập.

Ôi trời, sao lại ngồi viết vu vơ thế này? Tại mùa lá đấy chứ! Không, tự trách mình đi, trách chi mùa lá. Thế mà tôi cũng tặc lưỡi, đổ lỗi cho một ngày giữa hạ bỗng nhiên nhớ về những mùa lá đã qua, nghe như lá đang rơi xào xạc trong một tiếng thở dài.


 7.2009

Mưa Sài Gòn

Đôi khi, nghĩ về những cơn mưa tôi lại liên tưởng đến tính cách người dân mỗi vùng miền, và không khỏi giật mình bởi sự tương đồng thú vị.

Nếu như ở Huế là những cơn mưa dai dẳng thấm vào lòng đất, nhỏ có, lớn có, tạo nên cái chất "dùng dằng" trầm buồn sâu sắc có thể xem là linh hồn xứ sở, thì mưa Hà Nội thật đa dạng với những nét đặc trưng riêng của bốn mùa. Cũng nhờ những cơn mưa bụi mùa xuân lất phất – thứ mưa khiến người ta lười mặc áo mưa nhưng đi lâu cũng ướt – mà không ít người nghệ sĩ có thể đút tay vào túi áo bành tô đi lững thững dưới mưa, lang thang qua các nẻo đường lạnh giá, dừng lại trước một hiên nhà cũ văng vẳng tiếng dương cầm. Người Hà Nội đâm ra lãng mạn là vậy. Rồi sang hè, mưa dông không làm tiết trời dịu mát mà còn thêm oi nồng hơi đất, khiến lòng người bức bối, những muốn tìm đến một sự giải thoát đầy nổi loạn, nhưng vẫn kìm lòng, chờ đợi một chút dịu dàng tí tách của ngày thu, rồi đông về lại đón những hạt mưa ít ỏi và trĩu nặng đủ làm vỡ òa cái khô khốc lạnh lẽo.

Nhưng mưa Sài Gòn thì không như thế.

Thành phố chỉ có hai mùa mưa nắng, ấy là nói cho văn hoa thôi, chứ thực chất là mùa mưa và mùa khô vì mùa nào mà Sài Gòn chẳng có nắng. Ở đây, bạn đừng có mơ cái cảnh lãng mạn đi bộ dưới mưa. Mưa bao giờ cũng xối xả, ồn ào và hối hả, mà đường Sài Gòn lại đông nên cảnh dừng chân trú mưa trở nên thân quen lắm. Với trẻ con, những cơn mưa rào Sài Gòn là điều kiện cực kỳ lý tưởng để… tắm; nhưng cũng chính những cơn mưa tầm tã ấy khiến các con đường ngập nước mênh mông. Chẳng biết tự bao giờ, người Sài Gòn có thêm một mùa nữa: mùa nước ngập.

Mưa Sài Gòn "bạo liệt" vậy nhưng lại trả về cho thành phố vẻ đẹp nõn nà, mát rượt và tinh khôi. Sau cơn mưa, bạn cứ thử đi bộ trên những con đường rợp lá mà xem, phải nói là mê mẩn luôn ấy chứ. Này nhé: mặt đường loang loáng nước, những vòm cây xanh mướt lấp lánh thỉnh thoảng lại trút vài giọt nước nặng trĩu lên vai, quyện với chút nắng trong veo đang dần lan tỏa… Thành phố như bỗng tỉnh giấc sau khi lỡ ngủ quên, các xe hàng rong lại ló mặt ra đường, rộn ràng và tất bật.

Mưa Sài Gòn làm tôi nhớ những lề đường đầy xác hoa ẩm ướt, nhớ ngày xưa hai đứa chở nhau về và mặc chung một cái áo mưa, nhớ những ngày café ngồi trong quán nhìn nước lăn dài trên mái ngói…

Thương những chiều mưa về ướt lạnh
Trắng xóa dòng sông, trắng xóa trời
Lá ướt đọng ngàn sao lấp lánh
Ta nép vào nhau nghe mưa rơi.
 
7.2009 

Thả những cánh hoa

Bạn có thích thả hoa không?

Tôi cũng trồng hoa, cắm hoa, nhưng thỉnh thoảng vẫn thích thả hoa bởi cái đẹp đơn giản mà tinh khiết của nó. Thì có cầu kỳ gì đâu, vài ba bông hoa, có khi chỉ cần đến một bông, một chiếc ly hoặc bình tròn nho nhỏ, thêm chút ngẫu hứng và yêu đời, thế là hoa nằm duyên dáng trên mặt nước, soi ánh sáng pha lê.

Cảm giác nhìn hoa thả trong bình có lẽ hơi khác một chút so với hoa cắm.

Những chiếc ly, chiếc bình thủy tinh trong suốt đựng mấy viên đá màu long lanh trong nước, cánh hoa rơi vào đó trông cứ như làm bằng thủy tinh, nếu có nắng chiếu vào lại càng hư ảo. Cuộc sống thật đẹp, cái đẹp đôi khi vương vãi đâu đó mà ta chẳng bận tâm nhặt nhạnh hoặc vô tình lãng quên; và cái đẹp đôi khi kỳ diệu hơn khi ta nhìn qua một lăng kính khác. Thì ra, cuộc sống đẹp hay không cũng do cách ta nhìn và cảm mà thôi.

Mỗi buổi sáng ra ban công tưới cây, thể nào cũng thấy vài bông hoa đã rụng nằm lặng lẽ bên thềm. Hoa rụng mà chưa kịp tàn, có lẽ bởi gió đêm, nên trông còn tươi mới lắm. Tôi lấy mấy bông xinh xinh thả vào chiếc ly thủy tinh rồi xoay xoay dưới ánh nắng mai, chợt thấy mùa xuân đến thật dịu dàng.

Và một chút hình ảnh về những cánh hoa làm duyên trên nước nhé.


Hoa dừa cạn khiêm nhường trên bàn ăn
Cánh hồng trinh bạch đặt bàn làm việc để tâm hồn thêm thư thái
Hoa hồng vàng cho căn bếp thêm sống động
Cẩm nhung trong phòng ngủ
Đóa hồng làm duyên giá sách
Cosmos trên bàn học con gái
Thả hoa để căn nhà thêm những góc bình yên!

Sài Gòn - báo

Sài Gòn phố trong tôi còn là một Sài Gòn – báo.

Hình ảnh “Sài Gòn – báo” đầu tiên đập vào mắt tôi là cảnh cô bé bán báo kiêm làm giao liên trong phim “Biệt động Sài Gòn” với tiếng rao lanh lảnh. Quả thực, ngày xưa tôi chỉ thấy những chuyện như thế trên phim, trên sách, chứ tôi không gặp những người bán báo dạo giữa đời thường. Tôi cũng thích đọc báo từ nhỏ, nhưng ngoài những thứ báo gia đình đặt mang đến tận nhà, thì tôi phải ra Bưu điện hoặc các hiệu sách nhỏ để mua báo về đọc. Sau này thành phố nơi tôi ở có nhiều sạp báo hơn, nhưng cũng không thể sánh được với sự “đậm đặc” và đa dạng của Sài Gòn. Đi những thành phố khác cũng vậy, kể cả Hà Nội, để tìm một nơi bán báo thật gần, thật tiện trên các nẻo đường quả là không dễ chút nào.
 
 
Vậy mà khi vào Sài Gòn, đâu đâu tôi cũng thấy báo.

Tìm mua báo ở Sài Gòn thật đơn giản, hầu như mỗi con đường đều có vài ba sạp báo bán đủ loại từ nhật báo đến tạp chí, báo lá cải hay báo chính luận… Thậm chí trong nhiều con hẻm nhỏ, báo cũng hiện diện để làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người dân lao động. Nói đến đọc báo, người ta thường nghĩ đến thói quen của thành phần trí thức, nhưng ở Sài Gòn, tất cả mọi người dân dù ở tầng lớp nào hầu như đều có thói quen này, và sự khác biệt có chăng chỉ nằm ở loại báo họ đọc mà thôi.

Văn hóa đọc báo của Sài Gòn thể hiện rõ nhất vào buổi sáng.

Buổi sáng là lúc các tờ nhật báo được tung ra đồng loạt, và người ta đón lấy những tờ báo nóng hôi hổi, bán tán râm ran bên các bàn ăn. Cũng vì người dân Sài Gòn quen đọc báo khi ăn sáng hoặc uống café vỉa hè mà đã một thời tôi lượm lặt được không biết bao nhiêu tin tức chỉ bằng cách dỏng tai lên nghe họ nói. Tôi cũng cảm thấy lòng vui vui khi bắt gặp những hình ảnh rất đời thường liên quan đến báo: những người đàn ông ngồi uống café trên vỉa hè nhạt nắng với tờ báo trải rộng che khuất cả gương mặt của mình, những người khách đợi sửa xe đọc báo không chỉ để giết thời gian mà còn tranh thủ lấy thông tin dù nó đã khá nhàu nhĩ qua các bàn tay, những bác xe ôm chăm chú đọc báo khi đang ngồi đợi khách (tôi còn để ý thấy giới xe ôm rất nghiện đọc báo Công An), những cụ già đọc báo trên ghế đá công viên, những cậu thanh niên thắng xe rất vội bên sạp báo để mua lấy một vài tờ rồi tất tả phóng đi, và ngay cả những chị bán báo cũng tranh thủ tận hưởng “món hàng” của mình khi vắng khách, với đầy đủ nón, găng tay, khẩu trang che kín mít cả người, chỉ trừ mỗi… hai con mắt để đọc báo.

Báo luôn hiện diện giữa lòng thành phố và báo trở thành “một phần tất yếu của cuộc sống” đối với người dân Sài Gòn.

Tôi cũng là một người khá bận rộn, nhưng tôi không chối bỏ cái thú vui thỉnh thoảng ghé sạp báo mua vài tờ về đọc, để lắng nghe những âm thanh tất bật của cuộc sống, để nhìn thấy những cảnh sinh hoạt rất đời thường, chứ không chỉ là đưa tay với lấy chồng báo và tạp chí ở cô lễ tân rồi ôm về phòng làm việc, hay cúi nhặt những tờ báo được thảy qua khe cửa một cách vô tình.
 
7.2009

Mùa thu trở lại

Mùa thu đi qua ngõ
Thả mùi hương thanh tao
Nhớ anh chiều phố cũ
Nụ hôn êm ngọt ngào.

Xa vắng, ôi xa vắng
Nước sông buồn mênh mang
Em thương thầm sắc nắng
Vương trên môi dịu dàng…

Em nhớ đôi bàn tay
Vuốt ve từng chân tóc
Lời anh như men say
Sóng tình dâng đáy mắt.

Rồi một mùa thu nữa
Lại về cùng tháng năm
Không biển và hương lúa
Chỉ nắng vàng phương Nam.

Bàn tay anh vẫn ấm
Dắt em qua thời gian
Kìa nhà ai cửa đóng
Mà vẳng ra tiếng đàn?

Thì ra thu vẫn thế
Bởi lòng không đổi thay
Hương tình vương nhè nhẹ
Dù thu không heo may.

10.2008

Thứ Ba, 7 tháng 9, 2010

Xao xác tiếng gà trưa

Từ khi chuyển về nơi ở mới, tôi lại được nghe tiếng gà gáy sáng khi bình minh lên đỏ ối một góc trời, rồi những tiếng gà trưa xao xác dưới vòm cây xanh mướt đổ dài bên bến sông.

Sao giữa Sài Gòn lại có tiếng gà trưa xao xuyến đến nhường ấy? Đó không phải là những tiếng gọi bình minh xôn xao khiến chúng tôi thức giấc đến bên cửa sổ đón chút nắng mai đang tan trong màn sương; đó là thứ âm thanh ngân dài trong xa vắng, gọi về những kỷ niệm xưa. Hơn chục năm rồi tôi không được nghe tiếng gà trong thành phố. Bây giờ, những buổi trưa vắng và yên tĩnh, gió mát rượi thổi suốt cả triền sông, làn khói mỏng bay lên rồi lạc giữa không gian chói chang ánh nắng, tiếng gà trưa bỗng vang lên như một tiếng gọi nao lòng khiến Sài Gòn khép mình trở lại vẻ thơ mộng yên bình bấy lâu vẫn lãng quên.

Tiếng gà làm tôi nhớ đến tuổi thơ khốn khó năm xưa trong căn nhà nhỏ quây quần cùng mẹ cha và anh chị. Có một ngày mưa lũ, nước mênh mông hiên nhà, con gà mái buổi trưa cục ta cục tác rồi ráng sức bay lên mái nhà tránh nước, đẻ rơi quả trứng xuống dòng nước lụt, thấy trứng không vỡ nên chúng tôi tiếc lại lội ra vớt vào. Rồi những trưa vắng gà mẹ dẫn gà con đi kiếm ăn, từ trong nhà nhìn ra cũng thấy gà mẹ miệt mài bới đất và gà con nô nghịch quanh bụi chuối dưới mảnh trời xanh ngắt, những tiếng kêu chiêm chiếp nghe thật dễ thương.

Tiếng gà bên sông làm một tình yêu mơ hồ trong tôi chợt giật mình thức giấc, nhớ những lời nhạc đầy hoài niệm – một Sài Gòn có chút nắng trong tiếng gà trưa của Trịnh hay quê hương Việt có mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên, với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông, một trưa nắng cho bao tâm hồn của Văn Cao. Hóa ra tâm hồn cũng có thể thăng hoa từ những điều bình dị ấy.

Yêu thành phố hơn qua những thoáng bình yên
Có tiếng gà trưa xa vắng, dịu hiền…

Nghe tiếng gà trưa xao xác gáy, thấy xao xuyến nao lòng mà cũng thoáng bâng khuâng. Không biết rồi đây tiếng gà sẽ còn tồn tại bao lâu nữa giữa những khu cao ốc và biệt thự đang nhiều lên hàng ngày? Tiếng gà mà tôi nói lại xuất phát từ một nơi chẳng biết gọi là phố hay quê: từ trên tầng cao nhìn xuống, những con gà đủng đỉnh đi trong mảnh vườn rộng bát ngát cây xanh, bên cạnh là căn biệt thự ven sông. Thì ra chủ nhân của nó vẫn không muốn xóa đi một ký ức êm đềm mộc mạc giữa cuộc sống tiện nghi của chốn thị thành này.

12.2009

Tết Sài Gòn

Phố ông Đồ
Tết Sài Gòn ư? Có gì mà nói, chán thấy mồ!

Tôi cũng từng nghĩ vậy bởi đã quá quen với không khí Tết quây quần ấm cúng trong tiết trời lạnh giá. Tôi yêu cái lạnh se sắt ngọt ngào ấy, yêu cái không khí rất cổ truyền khiến những người xa quê không khỏi chạnh lòng thương nhớ chốn xưa. Tết Sài Gòn thì quá nóng, bởi đang giữa mùa khô, nóng quá nên ai cũng ngại đi lại trong thành phố, thôi thì cứ coi như Tết là một dịp nghỉ phép dài.

Thế mà, có năm tôi đi ăn Tết ở nơi khác, chợt thấy lòng bồi hồi lưu luyến, một thoáng thẫn thờ nghĩ đến những khoảnh khắc thật đẹp của Tết Sài Gòn.

Tết Sài Gòn, đi ngang khu phố cổ – giờ là những con đường sầm uất với dãy khách sạn chạy dài – lại bắt gặp người nghệ sĩ thổi kèn góp vui cho màn ẩm thực vỉa hè sôi động. Tết Sài Gòn, tạt qua những con đường bề bộn, thấy người bán hàng lưng áo ướt đẫm mồ hôi bày từng đống dưa hấu trên tấm vải bạt lớn, tràn ra cả lề đường, rồi những dãy bao lì xì đỏ tươi tràn ngập các nẻo đường và cổng chợ.
 
Múa lân ngày Tết

Tết Sài Gòn trong mắt tôi còn là chiếc thuyền hoa duyên dáng của người bán dạo neo đậu ven kênh. Những ngày giáp Tết, từng chậu hoa kiểng được chất đầy thuyền, rồi cứ thế từng đoàn xuôi dòng kênh đùng đục đưa hoa về phố, đôi lúc đã khiến tôi bật cười với cái cảnh “trên hoa dưới rác”, vậy mà ngẫm lại vẫn thấy rất nên thơ. Nhờ Tết, Sài Gòn trong chớp mắt bỗng biến thành một “thành phố hoa” với đủ loại hoa kiểng từ khắp nơi đổ về khoe sắc trong hội xuân Tao Đàn.
 
Công viên mùa xuân

Nhưng, nếu bảo tôi tả thật ngắn gọn cái đẹp của Sài Gòn vào dịp Tết thì tôi chỉ có thể nói vỏn vẹn ba chữ: “thành phố thức” – thức cả ngày lẫn đêm. Từ dịp Giáng sinh, đèn đã chiếu sáng rực rỡ trên các con đường lớn, rồi sang Tết ta, khu trung tâm bỗng tưng bừng với phố tỏa sáng, và đường hoa về đêm càng thêm lộng lẫy, không hổ danh là “Sài Gòn hoa lệ”. Từ đầu ngày, phố ông đồ đã nhộn nhịp bút nghiên, nhưng đông khách nhất vẫn là buổi tối, có khi các thầy đồ viết không kịp để khách phải chờ lâu. Chợ Bến Thành đêm cũng không kém phần tấp nập, nên những con đường quanh đó đặc kín cả người.

Sài Gòn ơi, thức làm chi cho lòng người xao xuyến?

Tôi bỗng thấy yêu Sài Gòn những đêm không ngủ, bởi khi ấy, Sài Gòn trở về với cái đẹp rất đặc trưng của mình: rực rỡ ngay cả khi lặng lẽ.

Sao cứ mãi đèn hoa cho tôi về say phố?
 
Đường hoa Nguyễn Huệ
Phố tỏa sáng
7.2009

Sonata ánh trăng

Ánh trăng đi về đâu trong đêm thanh vắng? Ánh trăng trải lòng ai những phút cô đơn? Trăng rơi trên sông một nỗi buồn cô độc, đẹp mà bí ẩn, xa xôi và đau đớn. Ai đã một lần nghe ánh trăng rót vào lòng như từng giọt buồn rơi qua bản sonata không bao giờ cũ với thời gian, để thấy sóng lòng cuộn dâng, khi êm ái thiết tha, khi mãnh liệt tuôn trào, khi khắc khoải và khi òa vỡ một nỗi niềm không thể gọi tên?

Bạn đã bao giờ nghe chưa, bản sonata cho piano số 14 của Beethoven ấy, mà sau này được phô thông với cái tên "Sonata ánh trăng"? Hãy nghe đi, và sẽ thấy, trăng không chỉ là trăng, trăng tràn ngập cả một cõi lòng đang dậy sóng.

Nhà thơ Ludwig Rellstap quả là có lý khi đặt tên cho bản giao hưởng này là "Sonata ánh trăng" để diễn tả tiếng nhạc tựa như "ánh trăng tỏa trên mặt hồ". Nghe chương nhạc đầu tiên của bản sonata này, có thể hình dung ra một thứ ánh sáng bàng bạc đang dịu dàng lan tỏa – một sự lãng mạn nhẹ nhàng.

"Sonata ánh trăng" có ba chương tất cả: Adagio Sostenuto, Allegretto, và Presto Agitato. Cả ba chương là sự hòa quyện của những thang bậc cảm xúc khiến tôi liên tưởng đến một câu thơ của Xuân Quỳnh: "dữ dội và dịu êm, ồn ào và lặng lẽ". Chương một được viết dưới hình thức sonata rút gọn với giai điệu chậm rãi, tha thiết mà nhà soạn nhạc Pháp Hector Berlioz gọi là "lời than vãn", gợi lên một thứ tình cảm dịu êm như ánh trăng tan trên mặt hồ lặng sóng, khiến người nghe lắng mình vào thế giới của giấc mơ và hồi ức. Chương hai là phần minuet và trio tương đối truyền thống, mang nhịp điệu nhanh hơn như ánh trăng đang mải miết theo dòng chảy của sông dài, gieo vào lòng người một niềm linh cảm có điều gì đó dữ dội sắp xảy ra. Chương cuối được viết ở hình thức sonata sôi nổi với nhiều hợp âm rải nhanh và âm nhấn mạnh mẽ, thể hiện cảm xúc mãnh liệt, dữ dội như ánh trăng vỡ ra trên mặt nước cuồn cuộn sóng giữa trời giông tố, nghe mà cảm giác như chính mình đang vật lộn với cuồng phong. "Sonata ánh trăng" chứa đựng nỗi buồn đau nhưng không tuyệt vọng, nếu không muốn nói là lột tả được khát vọng hướng đến một điều gì đó tốt đẹp hơn từ trong đau khổ.

Dường như "Sonata ánh trăng" nghe hay hơn trong đêm, và đó phải là một đêm thanh vắng. Khi tiếng dương cầm vang lên là cả không gian và thời gian ngưng đọng lại. Tôi lặng lẽ chiêm ngưỡng cái đẹp u uẩn của một cuộc tình cô liêu thấm đẫm ánh trăng. Ôi, ánh trăng… Ánh trăng phủ trên mặt nước lấp lánh sáng, ánh trăng len qua vòm lá đẫm sương đêm, ánh trăng đổ xuống một căn gác buồn cô tịch, ánh trăng đọng lại trong một đôi mắt dõi theo phía chân trời… Kìa một đôi tay chìa ra đón lấy ánh trăng như hứng lấy cả một trời hy vọng.

Beethoven sáng tác bản Sonata cho piano số 14 năm 1801 và đề tặng cho cô học trò 17 tuổi của mình là nữ bá tước Giulietta Guicciardi. Sau khi Beethoven qua đời vài năm, nhà thơ và cũng là nhà phê bình âm nhạc Đức Ludwig Rellstab đã so sánh những giai điệu mượt mà trong chương đầu của tác phẩm với ánh trăng trên hồ Lucerne. Từ đó bản nhạc này được mọi người biết đến dưới cái tên "Sonata ánh trăng".

"Sonata ánh trăng" huyền ảo quá, và ngay cả sự ra đời của nó cũng có thật nhiều giai thoại. Sau đây là một giai thoại nổi tiếng về xuất xứ của bản nhạc bất hủ này.

Năm 1801, Beethoven đang sống ở kinh đô âm nhạc thế giới là thành Vienna – thủ đô nước Áo. Để trang trải khó khăn trong cuộc sống thường ngày, ngoài việc sáng tác, Beethoven còn dạy nhạc cho con gái các nhà quý tộc. Beethoven xấu trai nhưng mang một trái tim nghệ sĩ đa tình. Ông đem lòng yêu say đắm một học trò của mình là Giulietta Guicciardi. Cô thiếu nữ dường như cũng biết được điều đó nhưng chỉ im lặng khiến Beethoven càng thêm hy vọng. Thế nhưng, tình cảm ấy của Beethoven đã bị cự tuyệt khi ông ngỏ lời với Giulietta dưới vòm hoa nhà nàng vào một buổi tối sau khi dạy xong. Tuyệt vọng và đau đớn, đêm hôm đó Beethoven đã lang thang vô định trong thành Vienna rồi đứng cô độc trên cây cầu bắc qua dòng Danube xanh xinh đẹp. Đó là một đêm trăng rất sáng, Beetthoven như sực tỉnh khi đắm mình trong một không gian tĩnh lặng bao phủ ánh trăng với nước sông Danube lấp lánh huyền ảo. Thành Vienna đã chìm sâu vào giấc ngủ, chỉ còn người nhạc sĩ đau đáu một mảnh tình đơn phương đang đứng cô độc giữa đất trời thấm đẫm ánh trăng. Đâu đây tiếng dương cầm vang lên xa vắng, tiếng đàn như hút hồn dẫn bước chân Beethoven đi một cách vô thức đến một ngôi nhà trong khu lao động nghèo. Ở đó chỉ có người cha đang ngồi nghe cô con gái mù của mình chơi dương cầm. Người cha đau khổ bảo Beethoven rằng con gái mình chỉ có một ước mơ duy nhất suốt cuộc đời là được ngắm nhìn ánh trăng trên dòng Danube, nhưng ông chẳng bao giờ có thể đem đến cho con niềm hạnh phúc giản dị ấy. Xúc động trước tình cảm của người cha dành cho con gái và ngạc nhiên trước tiếng dương cầm thánh thót của người thiếu nữ mù, Beethoven ngồi vào cây đàn và bắt đầu chơi. Những nốt nhạc vang lên ngẫu hứng, ào ạt dâng theo cảm xúc mãnh liệt của nhà soạn nhạc thiên tài, lúc nhẹ nhàng hiền dịu như ánh trăng, lúc lại mạnh mẽ mênh mang như sóng sông Danube. Dường như không còn cuộc sống vất vả với những lo toan thường nhật, không còn những mảnh đời đau khổ, những bi thương tuyệt vọng mà chỉ còn một thế giới huyền ảo, lung linh như cổ tích. Tiếng nhạc ngân lên trong ánh trăng, thấm đẫm trong ánh trăng, dạt dào trong ánh trăng, đọng lại từng giọt cảm xúc đầy khát vọng bứt ra khỏi lời nguyền của số phận.

Tôi nghe "Sonata ánh trăng" nhiều lắm rồi, nhưng vẫn không bao giờ chán. Mỗi lần nghe là một lần trải nghiệm với vẻ đẹp mê đắm và khao khát mãnh liệt giữa tận cùng bát ngát ánh trăng.

 
10.2007

Thứ Hai, 6 tháng 9, 2010

Sài Gòn - những nẻo đường thơ

Tôi không dám chối bỏ mình là một người tham lam, tham lam cả trong cảm xúc và âm nhạc.

Từ rất lâu rồi, tôi mê đắm nhạc Phú Quang và nhạc Trịnh bởi cái chất tự sự sâu lắng đẹp đến nao lòng. Tôi cũng yêu Hà Nội lãng đãng và cổ kính của bốn mùa xuân hạ thu đông, với những chiều thu tháng 10 đi trên "phố thơm" Điện Biên Phủ ngát hương hoàng lan vương trên tóc, với một sớm mùa đông lạnh – lạnh cóng đôi chân trần – mắt dõi theo những dãy phố của một ngày heo hút gió qua chiếc cửa kính mờ sương, với vòm hoa sấu li ti như triệu ánh sao trời lấp lánh sau cơn mưa mùa hạ trên đường Trần Phú, với hai hàng ban tím bọc lấy vườn hồng mùa xuân ở phố Bắc Sơn… Tôi cũng yêu Huế trầm mặc có dòng Hương xanh trong vắt soi cành phượng đỏ - thành phố của non xanh nước biếc, của những quán café đầy thơ mộng, của hoa ngô đồng chiều tím bâng khuâng…

Và dĩ nhiên, trong trái tim tôi còn có cả một Sài Gòn thật dịu êm giữa rất nhiều bộn bề, hối hả.

Trả lại em yêu, khung trời đại học
Con đường Duy Tân cây dài bóng mát
Buổi chiều khuôn viên mây trời xanh ngát
Vết chân trên đường vẫn chưa phai tàn.

Quả thực, tôi cũng yêu con đường Phạm Ngọc Thạch – một Duy Tân xưa cũ đầy lá me bay trong câu hát của Phạm Duy – nhưng tôi còn yêu hơn khi đi bộ dưới những con đường có hàng cây thẳng đuột và cao vút như Trương Định hay Huyền Trân Công Chúa, những kiểu cây đặc biệt của phố phường mà chỉ Sài Gòn mới có; hay khi chân bước chầm chậm trên đường Nguyễn Du đoạn qua Nhạc viện, cố đón lấy những âm thanh trong trẻo; rồi những buổi sáng lang thang trong phố cổ, mường tượng một Sài Gòn xưa nơi góc nhà hát lớn và khách sạn Continental.

Sài Gòn cũng đi vào lòng tôi như một "thành phố tình yêu và nỗi nhớ": Em ơi hãy lắng nghe, em ơi hãy lắng nghe, nghe thành phố thở; bằng đôi chim nhỏ bay giữa bầu trời; bằng bao nụ cười nghiêng nghiêng chờ đợi; bằng hoa phượng đỏ thương ai trao ai…(Phạm Minh Tuấn – Nguyễn Nhật Ánh). Nhưng rồi tôi lại không thích Sài Gòn phượng đỏ, bởi hoa thì ít mà lá thì nhiều, tôi đã lỡ yêu cái vòm trời như lửa cháy rủ xuống dòng Hương xanh thẳm mất rồi; thế là Sài Gòn đọng lại trong tôi những ngày hoa vàng trải thảm – của hoa điệp, hoa lim và hoa muồng hoàng yến (mà nhiều người vẫn gọi là Osaka).

Nếu một mai tôi xa Sài Gòn…

Tôi e mình không thoát khỏi cái khoảnh khắc nửa đêm vùng dậy để nghe những lời nhạc quá đỗi dịu dàng của Trịnh Công Sơn: Em còn nhớ hay em đã quên - Nhớ Sài Gòn mưa rồi chợt nắng - Nhớ phố xưa quen biết tên bàn chân - Nhớ đèn đường từng đêm thao thức - Sáng cho em vòm lá me xanh… Em còn nhớ hay em đã quên - Nhớ Sài Gòn những chiều lộng gió - Lá hát như mưa suốt con đường đi - Có mặt đường vàng hoa như gấm - Có không gian màu áo bay lên…

Nhưng tôi lại không muốn làm người ra đi. Tôi muốn ở lại cùng cái đẹp đời thường của Sài Gòn như câu kết đầy náo nức của nhạc sĩ Y Vân: Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi; dù ngay tại mảnh đấy này, có khi tôi cũng da diết nhớ một buổi chiều tháng 10 cùng 3 đứa bạn đại học chạy xe thong dong qua bến Bạch Đằng, trầm mình trong màu nắng rất trong và đón làn gió mát từ sông thổi lên. Hơn mười năm rồi, bạn bè cũ có mấy khi gặp lại, kỷ niệm xưa chỉ còn trong một ký ức khó phôi pha.

7.2009

Cảm xúc Sài Gòn phố

Có lẽ, các bạn đã quen nghe cái từ “Hà Nội phố”, chứ không mấy khi nghe nhắc đến “Sài Gòn phố”, cũng như đâu đó cảm xúc lắng đọng trong những tâm hồn lãng mạn về thành phố thân thương thường là dành cho những miền đất rất “thơ” như Hà Nội, Huế, Đà Lạt…

Nhưng…

Tôi bứt cả một chữ “nhưng” đầy tình yêu và lưu luyến ra khỏi trái tim tù ngục. Sài Gòn – vốn không phải là quê hương tôi, cũng không phải nơi tôi sinh ra và lớn lên, nói nôm na Sài Gòn chỉ là miền đất đón bước chân của một người con gái mang trong mình giọt máu miền Trung vào Nam lập nghiệp, mà sao vẫn để lại trong tôi nhiều thương mến. Sài Gòn có những con đường mà tôi chỉ thích đi bộ, thích lê la vỉa hè, thích nhâm nhi hàng quán, thích cái nắng óng ả xuyên qua vòm me xanh và cả giọng mời rất ngọt của những chị hàng rong.

Nếu một ngày kia tôi xa Sài Gòn…

Tôi sẽ nhớ lắm những buổi chiều ngồi uống café vỉa hè dưới vòm hoa osaka rực rỡ nhìn qua nhà thờ Huyện Sĩ, nhớ con đường Phạm Ngọc Thạch có những quả me khô bất ngờ rơi lộp độp và lăn tròn dưới lốp xe. Nhớ một thoáng mưa chiều, dừng chân trú ở hiên nhà lạ, có câu chuyện chớp nhoáng với chị bán bò bía cũng đụt mưa mà xúc động một mảnh đời.

Tôi nhớ mỗi dịp tháng 3 về, thành phố nhuộm một màu vàng rất tuyệt – đến mức tôi phải gọi Sài Gòn của tháng 3 là thành phố hoa vàng. Những cánh hoa mỏng và nhẹ lắm, nên khi rơi xuống vẫn lặng lẽ bên đường, không như lá theo gió cuốn đi, trở thành những thảm nắng lưu luyến bước chân qua.

Tôi cũng rất nhớ những ngày Sài Gòn ngập nước sau một cơn mưa xối xả hay dịp triều cường, có khi ngập đến nửa bánh xe, đi làm về mà “cực chi lạ”. Nhớ vỉa hè to và rộng đầy bằng lăng tím phủ xuống dãy đại bác chĩa ra dòng sông chói chang ánh nắng. Sài Gòn tấp nập và bon chen, nếu đến những ngày này bạn sẽ còn thấy đầy bụi bặm và lô cốt, nhưng không vì thế mà những phút giây đầy mơ mộng và hứng khởi bị lãng quên.

Tôi viết cho tôi và cho những ai mang trong mình những cảm xúc về Sài Gòn phố:

Sài Gòn ơi
Tôi yêu những con đường đầy gió
Mùa hạ về xao xác lá me bay
Yêu đôi mắt xoe tròn bỡ ngỡ
Của em thơ bên góc phố mỗi ngày.

Sài Gòn ơi
Tôi yêu buổi chiều phai vạt nắng
Rồi bất ngờ một thoáng mưa rơi
Tiếng dương cầm nhà ai sâu lắng
Níu bước chân trên xác lá tơi bời.

Sài Gòn ơi
Tôi yêu cánh hoa dầu phớt đỏ
Xoay giữa trời trong vũ khúc mong manh
Tôi tiễn bạn, đôi mắt đầy nỗi nhớ
Lắng vào tim một ký ức ngọt lành.

Sài Gòn ơi
Tôi yêu gốc me già
Có ai kia hò hẹn
Tuổi xuân thì tà áo trắng bay lên
Yêu ánh trăng loang trên dòng kênh
Chênh chao từng mảnh vỡ
Góc quán tự tình bỗng chốc quên tên.

Sài Gòn ơi
Tôi yêu đường Yersin
Hoa lim vàng nở rộ
Chợ Bến Thành đêm cũng lắm người qua
Những hàng gánh tha hương
Ngủ quên bên đường nhỏ
Ánh đèn vàng thao thức phố xa.

Tôi sẽ gọi giữa một trời lưu luyến
Mùa gió về nô nức đón Noel
Thành phố thức để cùng ai xao xuyến
Chút tâm tình cho phố nhỏ thân quen.
 
7.2009 

Thương nhớ đồng quê

Thương nhớ đường về hoa xuyến chi
Vương theo hương lúa tuổi xuân thì
Em cười, nắng rọi mùa xuân cũ
Cải vàng quấn quýt bước chân đi.

Thương nhớ đồng quê ngày chớm hạ
Thơm thơm một thoáng búp sen hồng
Xòe tay anh thả đôi nhành lá
Em kết thuyền trôi nơi bến sông.

Thương nhớ rừng thu hương nấm mối
Em xa biển rộng, núi mây ngàn
Mênh mang chiều xuống loang màu khói
Nồng nàn lúa chín gọi mùa sang.

Thương nhớ chiều đông mưa lất phất
Gió về lạnh lẽo buốt bàn tay
Trời lam một mảnh soi đáy mắt
Lá đông lấp lánh giọt vơi đầy.

Em đi, gửi lại hồn sông nước
Thương nhớ đồng quê đã mấy mùa…


 8.2009

Sông Danube xanh

Hẳn là những ai yêu âm nhạc cũng đã từng nghe bản “Sông Danube xanh” của Johann Strauss.

Tôi mê nhạc cổ điển từ ngày còn bé, khác hẳn hầu hết bạn bè tôi lúc đó (Họ chỉ thích nhạc có lời, còn tôi thì thích cả nhạc có lời lẫn không lời, thậm chí còn thích nghe hòa tấu nhiều hơn). Có rất nhiều bản nhạc hay gợi lên trong tôi những cảm xúc rung động mãnh liệt, trong đó có Sông Danune xanh. Nghe bản nhạc này từ bé, đến giờ vẫn nghe, và tôi biết, dù tháng năm trôi qua, tôi vẫn mãi không thôi mê đắm bản nhạc valse bất hủ này.


Năm 1867, Johann Strauss Jr sáng tác “Donauwalzer” (bản nhạc valse sông Danube), tên đầy đủ của bản nhạc này là “An der schönen blauen Donau” (Bên dòng sông Danube xanh xinh đẹp). Bản nhạc nguyên thủy này không được đón nhận nồng nhiệt cho lắm, có lẽ vì lời nhạc của nó do Josef Weyl đặt không được hay.

Vài tháng sau đó, khi Strauss tham dự Hội chợ Quốc tế Paris và cần gấp vài bản nhạc mới để trình diễn, ông đã chuyển bài này thành một phiên bản cho giàn nhạc hoà tấu. Tác phẩm thành công rực rỡ ngay từ buổi trình diễn đầu tiên với cái tên “Le beau Danube bleu”. Từ đó trở đi, Sông Danube xanh soạn cho giàn nhạc hoà tấu này được trình diễn khắp nơi và trở thành một trong những tác phẩm âm nhạc được yêu thích nhất mọi thời đại.

Tôi thường nghe bản nhạc Sông Danube xanh của giàn nhạc giao hưởng, tiếc rằng không thể đưa lên đây được. Tôi cũng có chơi bản nhạc này nhưng tất nhiên không được hay.

Nghe sông Danube xanh không lời, rồi nghe thêm bài hát “Dòng sông xanh” có lời Việt của Phạm Duy, càng cảm được cái đẹp mênh mông xa vắng đến nao lòng:

Một dòng xanh xanh, một dòng tràn mông mênh
Một dòng nồng ý biếc, một dòng sầu mấy kiếp
Một dòng trời xao xuyến, một dòng tình thương mến
Một dòng còn quyến luyến, một dòng nhớ
Quay về miền đời lúc mơ huyền
Ánh dương lên xôn xao, hai ven bờ sông sâu
Cười ròn tiếng người, đẹp lòng sớm mai.
Những cô em tươi môi ngồi giặt yếm yên vui
Thả ý thắm theo người chở gió về xuôi.
Hát vang lên cho vui, cô nàng ngồi bên tôi
Đời là khúc nhạc, đời là tiếng thơ
Nước sông reo như ru cuồn cuộn sóng trôi xa
Là tiếng hát mơ hồ mời đón lòng ta.
Sông về sông dào dạt ý
Hát tang bồng theo tàu mà đi
Ai giang hồ sau nghìn hải lý
Lỡ tình duyên nơi đâu đó ghé qua kinh kỳ.
Sông về sông dào dạt ý
Hát tang bồng theo tàu mà đi
Ai giang hồ sau nghìn hải lý
Lỡ tình duyên nơi đâu đó ghé qua kinh kỳ.
Ôi, tóc em hoe như mây chiều rơi, rơi vàng lòng đời.
Ôi, mắt em xanh như đêm dài, để người quên kiếp mai.
Sông về, sông cười ròn tiếng
Yêu mối tình bên bờ thành Vienne
Đôi giang hồ quay về bờ bến
Ngỡ mình vui trong ánh sáng muôn sao Thiên Đàng.
Ngày ấy, có tiếng ai khoan hò thuyền về.
Ngày ấy, có dáng em soi dòng chiều hè.
Ngày ấy, có tiếng ta hát gọi tình về
Nước sông miên man trôi đi.
Ngày ấy, lúc đến với em một lời thề.
Ngày ấy, lúc nói với em một chuyện gì.
Ngày ấy, lúc vui cuộc sống nhịp tràn trề
Nước sông miên man trôi đi.
...

Người hỡi! Ánh trăng rụng không tới nước.
Vì đêm rét mướt, dòng sông lắng câm.
Người hỡi! Giúp nhau mở đôi mắt biếc
Ngắm cầu nhớ sông im cúi gầm.
Người hỡi! Ánh trăng rụng không tới nước.
Vì đêm rét mướt, dòng sông lắng câm.
Người hỡi! Giúp nhau mở đôi mắt biếc
Ngắm sông xanh xao
Đi về đâu? Đi về đâu?
Nước lặng khô cứng đờ.
Màn tang buông tuyết phủ.
Người ơi! Đi về đâu?
Kiếp tù đầy nước giá
Xót thương cho cây khô nghèo.
Đi về đâu? Đi về đâu?
Nước lặng khô cứng đờ.
Màn tang buông tuyết phủ.
Người ơi! Đi về đâu?
Kiếp tù đầy nước giá
Xót thương cho cây khô nghèo.
Rồi đàn chim xanh từ trời thanh về vờn quanh.
Gió Đông chết ngoài sông mới, mùa Xuân tới.
Ai mơ hồ ngủ kỹ, mau ra đời.
Bông hoa đầu rụng rơi trên dòng xanh
Rồi đàn chim xanh từ trời thanh về vờn quanh.
Gió Đông chết ngoài sông mới, mùa Xuân tới.
Ai mơ hồ ngủ kỹ, mau ra đời.
Bông hoa đầu rụng rơi trên dòng xanh lơ
Đi! Ta đi, đi theo sóng, sóng nước biếc.
Theo nhịp sóng vui tưng bừng.
Đi! Ta đi, đi theo sóng, sóng nước biếc.
Theo mây trôi đi muôn nơi khắp chân trời.


Rồi một lúc thấy lòng buồn nhớ, lắng mình trong những tiếng nhạc êm đềm như ký ức tự ngàn xưa vọng về, chợt thấy thèm một khoảnh khắc được đứng trước dòng Danube để chiêm ngưỡng vẻ đẹp bao la và hoang sơ của nó.

6.2007

Dòng sông kỷ niệm

Hoàng hôn trên sông Hương

Tôi đã đi qua nhiều dòng sông, nhưng vẫn không thấy con sông nào thơ mộng và quyến rũ như dòng Hương xứ Huế. Một người bạn Pháp của tôi quả quyết rằng về bản chất tự nhiên thì sông Hương còn đẹp hơn sông Seine, và dòng sông này như một phụ nữ đẹp quyến rũ, bí ẩn và nguy hiểm, bởi nước sông trong xanh và êm đềm như không hề có sóng, nhưng thực tế thì đây là con sông sâu với rất nhiều vực thẳm.
Lại nhớ câu thơ của Thu Bồn:

“Con sông dùng dằng con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”


Có nhiều giai thoại về tên con sông này. Tục truyền rằng ngày xưa vua Trần gả Huyền Trân công chúa cho vua nước Chiêm Thành là Chế Mân để lấy hai châu Ô, Lý, khi thuyền đi ngang dòng sông này thì nàng thấy một mùi hương dìu dịu tỏa ra, bèn đặt tên là sông Hương. Sử sách lại cho rằng chúa Nguyễn Hoàng đương lúc băn khoăn không biết nên xây chùa ở đâu thì đêm nằm mộng được một bà tiên bảo rằng hãy đốt hương đi dọc bờ sông, khi nào hương tắt thì dừng lại xây chùa. Chúa Nguyễn làm theo, sau đó đặt tên dòng sông này là sông Hương và ngôi chùa bên bờ sông là chùa Thiên Mụ (hay còn gọi là Linh Mụ). Xoay quanh cái tên của dòng sông này còn có nhiều giai thoại khác, tôi xin trích một đoạn trong bài Sông hoa của Lê Huỳnh Lâm: “Các cụ ngày xưa nói nước sông Hương pha trà thì rất thơm, ngon nên được gọi là sông Thơm, rồi một vài ý kiến lại nói nước trên dòng sông này toả ra một mùi hương dìu dặt của loài cỏ Thạch Xương Bồ mọc dọc ven bờ sông, kẽ đá phía thượng nguồn.” Còn trong bút ký Ai đã đặt tên cho dòng sông, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường viết: “…tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người ở hai bờ đã nấu nước trăm hoa đổ xuống lòng sông, để làn nước thơm tho mãi mãi. Tôi lĩnh hội ý nghĩa của truyền thuyết ấy như nhà thơ chọn bút hiệu của mình, gửi gắm vào đấy tất cả ước vọng muốn đem cái Đẹp và tiếng Thơm để xây đắp văn hoá và lịch sử”.

Sông Hương đoạn nào cũng đẹp, từ chỗ thượng nguồn nơi có thể nhìn khúc sông uốn lượn từ đồi Vọng Cảnh, đến chỗ dòng nước chia hai ôm lấy cồn Hến và chảy ven vùng Vỹ Dạ xanh tươi trù phú. Nước sông Hương ngọt ngào tạo nên những vườn cây nổi tiếng của đất cố đô như Kim Long, Vỹ Dạ, cả những món ăn rất đặc trưng mà nơi khác làm khó sánh bằng vì thiếu loại hến ngon và loại bắp thơm ngọt của cồn Hến.

Sông Hương ven đồi Vọng Cảnh
Xanh biếc giữa núi rừng

Với tôi, sông Hương là một dòng sông kỷ niệm. Đó là những ngày chủ nhật, vài ba đứa bạn kéo nhau qua Kim Long ăn bánh cuốn hay bún thịt nướng, ngắm vườn cây xanh mướt ven sông. Đó là những chuyến đi chơi thuyền Rồng ngược dòng lên chùa Thiên Mụ, điện Hòn Chén và lăng Minh Mạng rồi thuyền tắt máy, để xuôi theo dòng nước tự trôi về trong làn gió đêm mát rượi và lấp lánh ánh trăng tan, thả những chiếc đèn lồng thắp nến và lặng lẽ chiêm ngưỡng hoa đăng lững lờ trôi trên mặt nước. Đó là những năm cấp III còn học trường Quốc Học, vào giờ chơi vẫn cùng bè bạn băng qua đường đi dạo ở bãi cỏ rộng và xanh trước bờ sông. Đường Lê Lợi rợp mát bóng cây, chạy dài từ ga tàu đến Đập Đá dọc theo sông Hương, băng qua nhiều trường học nên vẫn được du khách gọi bằng một cái tên trìu mến: “con đường áo trắng”.

Nồng nàn sắc phượng

5.2008

Thương nhớ ngô đồng

Con đi xa mười năm rồi mẹ nhỉ?
Mười mùa hoa thao thức đợi vầng trăng
Nhớ khoảng trời hồng tím đến bâng khuâng
Ngô đồng khóc, lá bay hình giọt lệ…

Con vẫn nhớ nồng nàn mùa hoa Huế
Ngày tháng tư khi nắng sớm vừa sang
Ngày cuối xuân, gió lộng với mây ngàn
Tan trong phố bởi sắc hồng xao xuyến.

Ngô đồng ơi, thuở xưa ta hò hẹn
Giấc mơ chiều tím biếc tuổi hoa niên
Tóc ai bay che khuất nụ cười hiền
Giấu ánh mắt đong đầy màu xa vắng.

Ai đã xa một miền hoa thầm lặng
Càng rưng rưng thương nhớ dáng ngô đồng
Lá thu chiều xao xác giữa mênh mông
Xòe tay hứng những trái tim thành phố.

Con đi xa mười năm rồi mẹ nhỉ
Vẫn nặng lòng vương vấn sắc hoa xưa…
Tôi viết bài thơ này khi một người bạn nhắn rằng ngô đồng ở Huế đã bắt đầu một mùa hoa nở.

Ai đã từng đi qua tuổi học trò ở Huế mà không một lần ngắm ngô đồng và nhặt cánh hoa rơi trong công viên Tứ Tượng bên dòng sông Hương? Đường Lê Lợi là “con đường áo trắng”, học sinh, sinh viên từ các giảng đường Đại học Sư Phạm, Đại học Khoa học, cả những ngôi trường nổi tiếng như Quốc học, Hai Bà Trưng (trước đây là trường nữ sinh Đồng Khánh) có thể tạt ngang góc công viên vào giờ nghỉ hay những buổi tan trường để thưởng thức khoảng trời hồng bên sông mỗi mùa hoa ngô đồng nở. Màu hoa bâng khuâng, khắc khoải như hoài cổ nhưng lại mang phong thái kiêu sa. Hoa tỏa mùi hương dìu dịu thơm ngát bàn tay, vương trên tóc một ngày hanh nắng.

Hoa ngô đồng Huế - ảnh: Đỗ Xuân Cẩm

Không nơi đâu trên đất nước này có những cây ngô đồng đẹp như ở Huế. Ngày xưa vua Minh Mạng quá mê ngô đồng mà cho đem cây này từ Quảng Đông (Trung Quốc) về trồng ở điện Cần Chánh. Ngô đồng kể từ đó thổi vào cố đô chút hồn suy tư trầm mặc của sắc vàng mỗi mùa lá rụng lẫn sắc hồng phớt tím của hoa mỗi độ xuân tàn. Thân ngô đồng thẳng đứng tượng trưng cho khí tiết thanh cao, và khi cây nở hoa, cả đất trời chìm trong hư ảo với màu hồng tím bâng khuâng, vừa dịu dàng vừa lộng lẫy – lột tả được vẻ đẹp tao nhã quý phái của đất kinh kỳ.

Ngày xưa, ngô đồng là loài cây dành riêng cho bậc đế vương, chỉ được trồng ở cung điện và các nhà quyền quý. Bây giờ đến Huế, du khách vẫn bắt gặp ngô đồng ở Đại Nội, lăng vua, bên hồ Tịnh Tâm, trong công viên Tứ Tượng bên bờ sông Hương, ở các chân cầu Phú Xuân, Tràng Tiền… Nghe đâu Công ty Công viên Cây xanh Huế đã cho nhân giống 150 cây ngô đồng để trả lại cho thành phố những không gian huyền thoại.

Ngô đồng là loài cây để lại nhiều vương vấn trong lòng thi nhân mặc khách. Đỗ Phủ trong những ngày lang thang bên sông Hoàng Hà, quá say mê vẻ đẹp của ngô đồng mà viết:

“Hương đạo trắc dư anh vũ lạp
Bích Ngô thê lão phượng hoàng chi”

Vua Thiệu Trị thì mê ngô đồng mà hóa thân làm thi sĩ và cho khắc lên bia mộ mình câu thơ về loài hoa cao quý này:

“Ly biên tam kính cúc
Dạ bán nhất thanh ngô”

Thì ra người đã khuất mà vẫn còn vang tiếng lá ngô đồng rơi ngoài hiên vắng.

Còn tôi – từ thuở ấu thơ đã thấy rợn ngợp trước sắc thu buồn xao xuyến qua câu thơ của Bích Khê:

“Ô hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông.”

Lá ngô đồng có hình trái tim hay giọt lệ - những trái tim biết bay, những giọt lệ xoay xoay trong buổi chiều đầy gió khiến ai bắt gặp đều không khỏi thấy lòng bâng khuâng. Lá vàng mấy tháng liền rồi rụng hẳn vào cuối mùa đông. Sang xuân cây mới nở hoa, từ xa nhìn lại là cả một vòm sáng thanh tao giữa đất trời, như làn mây hồng pha sắc tím trùm lên thành phố. Những buổi sáng ban mai khi sương còn ướt lá, hoa ngô đồng càng thêm huyền ảo, lung linh.

Thời tôi còn bé, ở công viên Tứ Tượng bên bờ sông Hương có một cây ngô đồng đại thụ, mỗi dịp tháng tư về là xao xuyến một trời hoa, lẫn trong sắc nắng còn non của ngày cuối xuân chớm hạ, trong sắc xanh của bầu trời cao lồng lộng phủ xuống dòng sông, vừa hồng bâng khuâng, vừa tím đến cồn cào nỗi nhớ, đẹp như những hàng đỗ mai vẫn nở hồng mỗi độ xuân sang trong sân trường Quốc Học mà sau này tôi vẫn mê say. Nhiều người dân cho biết họ đã từng thấy chim phượng hoàng bay về đậu trên cây ngô đồng này nhiều năm. Huyền thoại xưa kể rằng loài chim quý này chỉ chọn cây ngô đồng mà đậu cho dù đường dài mỏi cánh. Tiếc thay, cơn bão lớn năm 1985 đã làm đổ mất cây ngô đồng này, để lại không ít hụt hẫng trong lòng người dân xứ Huế. Rồi cũng ở một góc công viên Tứ Tượng, cây ngô đồng con giờ đã lớn lên và nở mấy mùa hoa. Một chiếc ghế trong quán cà phê Sơn trên đường Lê Lợi là nơi lý tưởng để cùng bè bạn thả hồn theo tiếng nhạc và chiêm ngưỡng hoa ngô đồng với một phong vị rất “Đường thi”.

Bây giờ, cây ngô đồng đẹp nhất là cây trồng ở điện Thái Hòa. Du khách từ xa đến thăm cung điện đúng vào mùa ngô đồng nở không khỏi xuýt xoa trước vẻ đẹp cao sang ấy. Còn giới học sinh, sinh viên vẫn thường hay ngắm ngô đồng bên sông Hương mà thôi.

Rồi một chiều giữa đất Sài Gòn, tình cờ đọc entry của một người đồng nghiệp có nhắc đến cây ngô đồng, lại thấy lòng xao xuyến nhớ loài hoa đẹp quý phái và trầm mặc như một biểu tượng của đất kinh kỳ. Đã sống bao năm ở Huế, đã quay trở lại bao lần, đã từng đi qua những mùa ngô đồng nở, đẹp dịu dàng trong những ngày cuối xuân, mà sao chẳng chụp lại tấm ảnh nào – không hiểu do vô tình hay lãng quên? Tự nhủ lòng mình hẹn một ngày về săn ảnh ngô đồng mùa ra hoa và rụng lá.

Thương nhớ lắm, ngô đồng ơi.

8.2008