Hiển thị các bài đăng có nhãn Một thoáng kỷ niệm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Một thoáng kỷ niệm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 10 tháng 11, 2010

Cha mẹ và những ngày xưa

Tôi sinh ra trong một gia đình có cha mẹ đều là giảng viên đại học. Nhà tôi nằm trong khu tập thể của trường ĐHSP, xưa kia vốn là khu biệt thự kiểu Pháp rộng lớn của cố giáo sư Nguyễn Thúc Hào, sau này được chia cho 5 nhà vốn là giảng viên, cán bộ của trường. Người ta vẫn bảo nhau rằng đây là khu đất thiêng, nhờ có hương hồn cụ Hào – vị giáo sư toán học đầu tiên của Việt Nam – phù hộ mà những đứa trẻ lớn lên trong khu nhà ấy đều học hành giỏi giang, đỗ đạt. Chẳng biết thiêng thật không, nhưng rõ ràng là trong khu nhà ấy, hầu như nhà nào cũng có con được học bổng du học nước ngoài, hay đạt giải học sinh giỏi quốc gia… Chuyện được chuyển thẳng vào trường chuyên hay đậu vài ba trường đại học, với chúng tôi là hết sức bình thường.

Cha mẹ tôi làm thầy, nhưng cả bốn anh chị em chúng tôi chưa có dịp xem cha mẹ đứng lớp một ngày nào cả, bởi lẽ chúng tôi đều có con đường đi riêng của mình. Ngày xưa, nghề giáo còn cơ cực lắm. Căn nhà khoảng 50m2 là nơi sinh sống cho cả 6 con người, mà sao không thấy chật, có lẽ vì thời đó đồ đạc còn ít quá, nhu cầu cũng giản đơn. Bù lại, chúng tôi có khu vườn thật rộng. Khu vườn yên tĩnh toàn lá hoa và cây trái – là nơi lưu giữ bao kỉ niệm tuổi thơ và cũng góp phần nuôi chúng tôi khôn lớn. Trong khu vườn ấy, mẹ trồng rau - những giàn đậu quả đu đưa xanh biếc, cà chua chín mọng đỏ au, cải xanh rờn từng luống, mồng tơi leo ven bờ rào với những chùm quả tím được chúng tôi lấy làm mực bôi lem luốc cả bàn tay, rau thơm, rau dền và thật nhiều rau lá khác. Trong khu vườn ấy, cha tôi làm những giàn bầu bí mướp, ngày ngày cha thụ phấn, tôi nằm trên cái võng đung đưa dưới bóng mát của giàn cây, nhìn theo ong bướm lượn lờ và đếm quả non trên giàn. Nghĩ lại thuở ấy thế mà hay, toàn được ăn rau sạch của nhà trồng. Và cũng trong khu vườn ấy, chị em tôi trồng hoa. Mỗi lần mưa xuống, tóc tiên nở hồng cả lối đi, mà xứ Huế vốn mưa nhiều - đông cũng như hè, nên con đường hoa trong sân nhà tôi luôn rực rỡ. Tóc tiên dây cũng leo lên cái giàn tre nho nhỏ, nở hoa đỏ thắm. Những cành sao nhái mảnh mai ngày ngày đón nắng như những cánh bướm chấp chới bay lên. Thạch thảo tím cả sân nhà, và có những bụi hoa tôi chẳng biết tên cứ âm thầm nở, vãi hạt mỗi đợt hoa tàn để vườn tươi mãi sắc hoa.

Cha mẹ ở trường làm nghề giáo, về nhà lại phải làm thêm đủ thứ khác để nuôi con – mà vào thập niên 1980, hầu như ai chả vậy. Tôi nhớ nhà chúng tôi cũng nuôi heo, nuôi gà, nuôi vịt, nuôi cả chim bồ câu… Rõ là trong cái thời khốn khó ấy, chúng tôi vẫn cần cả bánh mì lẫn hoa hồng. Tôi nhớ những con gà mái cục ta cục tác dẫn con đi kiếm mồi, đàn gà con lông vàng óng ả mà chị em chúng tôi giành nhau mỗi đứa sở hữu vài con. Mỗi buổi sáng mai, anh em tôi chạy ra chuồng xem gà đẻ, chờ quả trứng hồng xinh lăn ra là đưa tay đón lấy, đem vào nhà. Chim câu thì sống trong cái chuồng xinh xắn áp mái nhà, hàng ngày vẫn tự do bay đi bay về, nhưng rồi một hôm cha tôi quên cất thang, đêm kẻ trộm vào bắt mất lũ chim, chúng tôi tiếc ngẩn ngơ. Sau này, nhà tôi lại còn nuôi ong nữa. Sáng sáng xem đàn ong kéo nhau đi tìm mật thật là vui mắt. Rồi đến ngày lấy mật – tay cầm tảng sáp dẻo quánh, mật ong nguyên chất thơm lừng, ngon hơn mọi thứ mật ong mà tôi đã từng ăn.

Ngày ấy, mỗi nhà thỉnh thoảng còn có bột mì của Liên Xô viện trợ. Cứ sáng sáng phải ăn bánh bột mì rán đến phát chán, mà không ăn thì còn biết ăn gì? Thỉnh thoảng cha làm bánh xèo, ngon đến lạ. Bây giờ tôi vẫn nhớ cái cảm giác ngồi bên bếp lửa chờ cha đổ chiếc bánh mới ra khỏi chảo, vừa ăn vội vừa xuýt xoa vì nóng. Mẹ làm kem và yaourt bỏ hàng cho quán, làm được 10 thì lũ con ăn hết 5, thôi thì cũng chịu khó để có thêm đồng ra đồng vào, con cái được bồi dưỡng chút ít cho đỡ thèm. Lại nhớ những buổi tối ăn cơm xong, cha mẹ chở nhau sang Đông Ba đi chợ đêm, vì lúc ấy cá theo ghe thuyền về từ cảng biển Thuận An vẫn còn tươi rói, vừa rẻ vừa ngon.

Ngày ấy khổ mà vui.

Vẫn nhớ mãi cái sân chung của khu tập thể, lũ trẻ con quần đùi áo cộc chơi đủ thứ trò vào những buổi chiều mát hoặc buổi trưa trốn ngủ. Nhớ cây trái vườn nhà trĩu quả đượm vị ngọt tuổi thơ. Gần nhà tôi có một cái hồ, xưa toàn lục bình trôi, chị em tôi ra lấy về chơi đồ hàng. Sau đó hồ bị lấp, từ đó mọc lên một khách sạn khang trang, lũ trẻ chúng tôi như thấy thiêu thiếu một cái gì. Sang thập niên 1990, nhà nhà bớt khổ, bắt đầu có của ăn của để. Khu nhà tôi đâm ra có giá với vị trí mặt tiền đường lớn. Rau cỏ thưa thớt dần, chẳng còn nghe tiếng gà gáy như xưa. Những căn nhà được hóa giá trở thành tài sản riêng, bốn gia đình quanh tôi đều bán nhà dời đi cả, chỉ nhà cha mẹ là vẫn còn đó, nằm lọt thỏm giữa khu khách sạn sầm uất của thành phố. Nhiều người vẫn đến gặp cha mẹ tôi gạ gẫm mua nhà để xây khách sạn, nhưng mảnh đất đã gắn với quá nhiều tình yêu và kỉ niệm, cha mẹ đâu thể đi xa. Anh chị giúp cha mẹ xây lại nhà trên đất cũ, rộng rãi và khang trang, nhưng mảnh vườn xưa đã bị dùng để xây dựng phần nhiều, làm tôi thấy lòng nhớ quá một tuổi thơ đẹp đẽ.

Trong suốt những năm tháng ấy, cha mẹ tôi vẫn làm thầy. Những dịp 20-11, học trò khắp nơi kéo về chia vui. Mẹ tôi có những người học trò dạy từ thuở xưa nay đã thành danh vẫn không quên cô giáo cũ. Cha tôi về hưu vẫn được trường mời theo nghiệp giảng – mà cha không thể bỏ bởi đứng lớp là một niềm vui.

Cha mẹ về hưu đã lâu rồi, cuộc sống nhẹ nhàng hơn xưa, con cái đều ổn định. Mảnh vườn tuy không còn rộng nhưng cũng đủ để cha mẹ trồng ít rau xanh thư giãn, thêm chút hoa lá làm đẹp nhà. Cha vừa đón nhận một niềm vui: được Nhà nước trao tặng danh hiệu “Nhà giáo nhân dân” – một món quà tinh thần quý giá với người suốt đời tâm huyết cùng nghề giáo như cha mẹ tôi. Còn tôi, dẫu có đi xa, vẫn luôn mơ về ngôi nhà của ngày xưa và cả ngày nay, nơi tôi đã có những ngày tháng đẹp với đầy tình yêu và nỗi nhớ.

Chủ Nhật, 19 tháng 9, 2010

Thời hoa mộng

(Tặng những ai đã một thời dưới mái trường Quốc Học)

Năm tháng dẫu trôi đi, trong ký ức mỗi người ai chẳng lưu luyến một thời hoa mộng?

18 năm về trước, tôi đón sinh nhật tuổi 15 bằng lễ khai giảng ở một ngôi trường hồng bên dòng sông Hương – ngôi trường mà mãi đến những năm sau này tôi vẫn không thể quên tuổi hoa niên đẹp đẽ dưới tán cây xanh và trên những con đường xao xác lá; ngôi trường rộng và đẹp luôn vương vấn nơi tận cùng nỗi nhớ, làm thức dậy bao kỷ niệm xưa.

Ôi chao là nhớ…


Tôi nhớ những cây cổ thụ rợp mát sân trường buổi chào cờ để đám học trò không bị nắng; nhớ những cây bàng chạy dài trên lối nhỏ với đám quả khô lăn lông lốc và thảm lá đỏ vàng mỗi độ thu sang. Bao quanh bốn phía khu nhà chơi là những tán phượng già với vòm hoa rưng rưng màu lửa cháy; và những vườn xoài, bưởi, mít… râm ran tiếng ve mà từ ngoài đường nhìn vào đã thấy bát ngát một màu xanh.

Tôi nhớ cái sân vận động to và rộng của trường tôi – nơi chúng tôi cổ vũ các nam sinh đá bóng với bao cảm giác hồi hộp và hân hoan, nhưng cũng là nơi lũ học trò đến khốn khổ vì những vòng chạy bền quanh đó vào giờ thể dục. Tôi còn nhớ mảnh vườn sinh vật học với những buổi lao động đầy kỷ niệm, mà cái kỷ niệm vui nhất là đám ma quỷ tinh nghịch chúng tôi đã bảo vệ tư tưởng "nhổ cỏ không nhổ tận gốc" khiến thầy chủ nhiệm cũng phải bật cười.

Tôi nhớ những dãy hành lang dài hun hút, mà ở Huế, có nhiều lối đi nhỏ như thế, dài hun hút như thế "cho mắt em sâu". Những dãy hành lang ấy được bao kín chỉ trừ ra mấy ô cửa sổ, nên dẫu trời có đổ nắng to thì cũng chỉ có vài vạt nắng lung linh ngoài cửa lớp, chưa đủ sức tràn vào căn phòng mát dịu, mà sóng sánh bên cửa kính, đọng lại thành màu "nắng thủy tinh". Phòng học nào ngoài gian chính để học cũng có thêm một gian phụ - nơi chúng tôi vẫn trốn thầy giám thị những hôm không mặc đồng phục, nơi chúng tôi tụ tập nhìn ra mảnh sân sau đầy lá và bàn tán đủ thứ chuyện trên đời, cũng là nơi chúng tôi đã đứng co cụm trong góc lớp, lo lắng nhìn những tấm cửa kính rung bần bật rồi vỡ tan, những cành bằng lăng gãy nát và thảm hoa tím đẫm nước tơi tả đến xót lòng trong cơn lốc kèm mưa đá đầu mùa hạ 1993.

Nhưng nhớ nhất, có lẽ vẫn là những hàng cây điệp anh đào đem đến cho Quốc Học cả một khoảng trời hồng xao xuyến làm bay bổng những ước mơ – màu hoa đã tạo thành bản sắc mà không ngôi trường nào có được, để lại nỗi nhớ đến nao lòng trong tâm hồn người đã đi xa. Mỗi độ tháng 2 về, sân trường lại đầy cánh hoa rơi – những thảm hoa quét rồi lại rụng, vương vấn dưới chân đi khiến những mối tình học trò càng thêm thi vị.

Tôi tin rằng đã là học sinh Quốc Học thì dù theo khối tự nhiên, ít nhiều trong mỗi người đều có chút lãng mạn, mà cái sự lãng mạn ấy cũng đầy chất Huế: sâu sắc, trong trẻo và nhẹ nhàng. Mà không lãng mạn sao được, khi mỗi buổi học nhìn qua khung cửa sổ là bắt gặp cả sắc mây hồng. Những hôm mưa bụi rơi, cánh hoa càng thêm hư ảo, lắng cả trời bâng khuâng.

Cái màu hoa ấy, tôi và bạn đã đứng rất lâu trong thứ nắng ban mai của buổi giao mùa để "lưu khoảnh khắc vào tim". Bây giờ bạn ở trời Tây, có da diết nhớ mặt đất và bầu trời đầy sắc hồng lưu luyến?

Điệp anh đào trong sân trường Quốc Học (ảnh: sưu tầm từ Internet)

Quốc Học - sân trường ngày hoa rơi (ảnh: sưu tầm từ Internet)
Tôi nhớ mãi buổi chia tay ngày ấy, buổi gặp mặt cuối cùng của cả lớp trong tiếng cười vui rồi lặng lẽ ra về dưới ánh hoàng hôn, để lại trên sân trường một chiếc ghế đá có khắc tên lớp và niên khóa làm kỷ niệm. Bức ảnh ấy, tôi không còn giữ, bởi cơn lũ lịch sử 1999 đã cuốn đi rồi; nhưng những lần trở lại trường, tôi vẫn tìm chiếc ghế đá của chúng mình một thuở.

Bạn đi, tôi cũng đã đi, dẫu không đi xa như bạn thì khoảng trời hồng kia cũng chỉ còn trong hoài niệm. Những cánh hoa vương trên tóc, vương trên áo, vương trên những trang giấy trắng học trò, để bây giờ cứ đọng mãi trong tim.

Và tôi vẫn thèm được trở về sân trường Quốc Học một ngày chớm sang xuân, để tìm lại một thời hoa mộng…

5.2008 

Thứ Năm, 9 tháng 9, 2010

Chút hoài niệm trong ngày nhà giáo

CHA MẸ TÔI

Từ buổi sáng hôm qua, đã liên tục gọi điện cho cha mẹ nhưng máy luôn bận, mãi đến khi đi dự lễ Nhà giáo ở trường con gái về, tôi mới có thể chúc mừng cha mẹ tôi. Tôi không lạ, vì tôi biết những ngày này, học trò cũ đến chơi và gọi điện chúc mừng cha mẹ tôi rất nhiều. Thuở xưa, cứ mỗi dịp 20-11 là nhà tôi ngập sắc hoa. Cha mẹ tôi mỗi người có gần 40 năm song hành cùng nghề giáo, bao thế hệ học trò đã đi qua trong đời, nào có phải ít đâu.

Cha mẹ đều là giảng viên đại học, nhưng chưa ai từng đứng lớp dạy một trong bốn chị em tôi. Tuy vậy, trong mắt chúng tôi, cha mẹ là những người thầy lớn, những người thầy đầu tiên trong đời.

 
Cha mẹ tôi dạy học từ những năm đầu của thập niên 60. Cũng như bao thế hệ nhà giáo trước và sau giải phóng, việc nuôi bốn đứa con ăn học cho ra hồn quả là vất vả, khó khăn. Nhà tôi thứ gì cũng thiếu, chỉ mỗi sách là nhiều, thế nên nhà vẫn chật dù đồ đạc chẳng bao nhiêu. Tôi nhớ những chiếc bánh xèo thơm ngon của cha làm từ loại bột mì do Liên Xô viện trợ thời bao cấp, tôi nhớ những đêm nằm trên giường chống cằm xem mẹ chấm điểm bài kiểm tra, rồi cũng tập tành làm cô giáo bằng cách gõ thước kẻ vào tường để dạy đám học sinh tưởng tượng vào mỗi buổi trưa, khiến bác hàng xóm phải sang gặp cha mẹ tôi than phiền rằng "con gái út của anh chị làm cho tôi mất ngủ".

Cha mẹ hầu như không bao giờ ép chị em tôi học, cũng chẳng hề kiểm tra sách vở, với người khác như thế có lẽ là dễ dãi. Nhưng bốn chị em tôi suốt những năm tháng cắp sách đến trường hầu như luôn làm cha mẹ vui lòng vì chuyện học hành của con. Với chúng tôi, học cũng như bước vào đời, tất cả là tự giác và tự thân vận động. Tôi biết trong lòng cha mẹ cũng lo âu khi con cái lập nghiệp nơi xa, nhưng dẫu sao vẫn mừng vì chúng tôi biết sống cùng niềm tin và ước vọng.

Hơn 12 năm trước, tôi chơi thân với một cậu bạn cùng khóa, sau này có học cha tôi. Tết bạn về thăm nhà, kể chuyện với gia đình mới vỡ lẽ năm xưa cha tôi từng là thầy giáo dạy ba của bạn. Bạn bảo: "Vậy là ba N. dạy cả hai thế hệ nhà mình". Chuyện bình thường thôi mà sao tôi cũng thấy vui vui.

Cha tôi nghỉ hưu cũng gần 10 năm rồi, với mẹ tôi thì lâu hơn. Cha tôi yêu nghề giáo nên cả khi đã làm quản lý, cha vẫn nhiệt tình đứng lớp. Nghỉ hưu, trường mời cha tiếp tục giảng dạy sinh viên, cha vẫn đi, và còn dạy thêm vài năm nữa. Sau này kinh tế gia đình tôi đã khá lên nhiều nên chúng tôi muốn cha nghỉ ngơi lúc tuổi già, song cha bảo, với những người thầy mà bảng đen phấn trắng đã trở thành tình yêu của họ thì được đứng trên bục giảng cũng là một niềm đam mê không bao giờ tắt.

NHỮNG NGÀY THÁNG ĐẸP

Tuy ra trường không theo nghề giáo, nhưng tôi cũng từng đứng trên bục giảng gần 3 tháng trong vai trò giáo viên thực tập bởi thuở xưa tôi học ngành Sư phạm.

Ngày ấy cách đây hơn 10 năm rồi, tôi được phân công về dạy lớp 10A1 trường Quốc Học. Nhóm thực tập sinh trong lớp gồm 4 người tất cả: tôi khoa Anh, một bạn khoa Văn, một bạn khoa Tin và một bạn khoa Toán, chia đều 2 nam 2 nữ.

Sau này khi đã đi làm nhiều năm, hướng dẫn các sinh viên thực tập, tôi được nghe các em tâm sự rằng nhiều bè bạn của các em xem thực tập là chuỗi thời gian kinh hoàng, bởi họ bị sai vặt nhiều hơn là được thực hành.

Nghĩ thế có lẽ cũng quá cực đoan vì không phải môi trường nào cũng vậy. Trong thời gian thực tập chúng tôi luôn được đứng lớp như một giáo viên thực thụ, được áp dụng giáo học pháp của chính mình và cũng cảm nhận được sự trân trọng mà mọi người dành cho nghề giáo. Thật khó quên cái cảm giác thao thức bên trang giáo án để giờ giảng của mình thực sự hấp dẫn, sinh động và thú vị. Học trò tôi ngày đó nhiều em sáng dạ, có tài nhưng cũng nghịch vô cùng. Tôi nhớ L.T. – cô bé có mái tóc xoăn, nước da nâu và đôi mắt sáng luôn toát lên vẻ thông minh và cương quyết, sau này đậu thủ khoa CNTT Bách Khoa TP HCM và giờ đang làm tiến sĩ ở Mỹ. Tôi nhớ N. – cậu bé giỏi Toán và tiếng Anh nhưng tính tình bẽn lẽn như con gái, tụi học trò bảo tôi rằng cô không còn dạy làm cậu ta phát khóc. Tôi nhớ C. – cô bé lớp trưởng có đôi mắt đẹp và dáng cao thanh thoát, ăn nói sắc sảo đến đám con trai trong lớp cũng phải kêu trời. Tôi nhớ H. – cô bé giỏi Văn hát hay, những ngày chuẩn bị văn nghệ cô trò theo tiếng guitar hòa chung một bài hát cũ. Và tôi nhớ Đ. – con trai thầy giáo cũ dạy tiếng Anh của tôi – vẽ rất đẹp, học Tin rất giỏi, sau này em theo con đường Tin học, đoạt nhiều giải thưởng lớn, tiếc rằng lại chết trong một lần đi tắm biển khi đang ở tuổi 25 tươi đẹp.

Hồi đó, VTV đang chiếu bộ phim hài Hàn Quốc: Yumi – tình yêu của tôi. Vì tôi cũng cắt tóc tém tinh nghịch, tính tình cũng nhí nhảnh vui tươi nên có người gọi tôi là Yumi – một cô Yumi đứng trên bục giảng không hề đeo kính nhưng khi chạy xe ngoài đường vẫn có thêm cặp kính trắng cho đỡ bụi. Học trò tôi hỏi: “Cô ơi, trông cô đeo kính dễ thương, tại sao cô chỉ đeo kính khi ra đường?” Tôi cười: “Ở trong lớp ai cũng biết cô trí thức, nên ra đường cô phải đeo kính vào không mọi người lại tưởng cô là trí ngủ”.

Biết viết sao cho đủ kỷ niệm của một ngày xưa yêu dấu. Hơn 10 năm không còn theo nghiệp bảng đen phấn trắng, vậy mà thỉnh thoảng vẫn nhận được một tấm thiệp, một lời chúc của học trò cũ nhân ngày nhà giáo, ngày sinh nhật…, thấy cuộc đời có những niềm hạnh phúc bình dị làm sao.
21.11.2008 

Hồi ức về những người thầy

Trong quãng đời cắp sách ta đã học qua bao nhiêu thầy cô? Bây giờ ngồi điểm lại, tôi vẫn còn nhớ như in tên các thầy cô giáo chủ nhiệm và bộ môn của từng lớp từ mẫu giáo đến khi tốt nghiệp đại học. May mắn làm sao ký ức về những người thầy trong tôi thường là những ký ức đẹp, có lẽ vì tôi đã được học một thế hệ thầy cô tâm huyết với nghề và giàu tình yêu thương. Tôi sẽ kể dần về họ, vừa là để nhớ lại một thuở cắp sách đến trường, vừa để gửi chút tri ân nhân ngày nhà giáo.

NGƯỜI THẦY CỦA 22 NĂM VỀ TRƯỚC

Có lẽ suốt cuộc đời này tôi không thể nào quên được hình ảnh một người thầy của hơn 20 năm về trước: nghiêm khắc, tận tụy và yêu nghề. Ở lứa tuổi lên mười, chúng tôi không chỉ được học thầy rất nhiều kiến thức (cả trong sách vở lẫn giữa đời thường) mà còn được rèn luyện nhiều kĩ năng sống: cách cư xử với mọi người; cách phản ứng trước những tình huống bất ngờ; cách lập kế hoạch học tập, sinh hoạt và vui chơi; cảm nhận riêng của bản thân về thế giới xung quanh; tìm hiểu những mẩu chuyện đông tây kim cổ và cả những kiến thức khoa học thường thức… Mỗi lần nghĩ về tập thể lớp 5/1 ngày ấy, tôi lại thấy mình may mắn vì đã có một năm học đầy kỷ niệm, một tuổi thơ sôi động và vui tươi.

mọi ngươi tạo dựng cuộc sống

Thầy vẫn hay nói như vậy, nhấn mạnh tinh thần chủ động và tư duy độc lập. Cũng vì lẽ đó mà thầy rất tích cực tổ chức các chuyến đi chơi để chúng tôi khám phá thế giới xung quanh. Chuyến đi đầu tiên năm tôi học lớp 5 là tham quan đồi thông Thiên An. Đồi thông cách trường học của tôi 6 cây số, và cả lớp… đi bộ đến đó. Đi khoảng một tiếng thì đến nơi, không hề thấy mệt tí nào mà lại rất vui. Vui vì cả lớp vừa đi vừa kể chuyện, vui vì trên đường đi thầy bảo dừng lại một số điểm nghe thầy giải thích: ví dụ đến đàn Nam Giao, thầy sẽ kể lai lịch của nó và cho biết vua quan triều Nguyễn dùng đã đàn Nam Giao để làm gì, hay thầy chỉ cây lá ven đường và nói quả này là quả mâm xôi, cây kia là cây dương xỉ… Đến nơi, cả lớp nghỉ chân bên hồ Thủy Tiên lấp lánh ánh nắng, thầy bảo mỗi người viết lại cảm nghĩ của mình. Sau đó là những trò chơi tập thể hết sức vui nhộn.

Cả lớp tôi rất thích học thầy. Hôm nào thầy không dạy được, người khác dạy thay là buổi học đó buồn hẳn đi. Sau mỗi buổi học thầy hay kể chuyện Bao Công, chuyện Địch Thanh… và rút ra những bài học nho nhỏ trong cuộc sống.

Trong suốt năm học ấy cả lớp tôi còn được đi chơi rất nhiều điểm nữa: lăng tẩm, chùa chiền, các chuyến dã ngoại… Nhớ nhất là chuyến đi Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn 2 ngày vào cuối năm học khi đã thi học kỳ xong. Chuyện này tôi cũng đã kể trong một entry khác, nay nhắc lại. 11 tuổi, không phải phụ huynh nào cũng “thả” con đi chơi hơn trăm cây số đến vùng xa xôi hẻo lánh, vậy mà năm ấy lớp chúng tôi đi rất đông, nhiều bạn khác trong trường cũng xin theo. Chuyến đi được thầy thông báo từ đầu năm học. Thầy bảo những ai muốn đi thì tập hợp thành các nhóm, mỗi nhóm 3 người để… nuôi gà. Thật kỳ lạ phải không? Nhưng thầy bảo, những con gà ấy sẽ do chính chúng tôi chăm sóc và dùng làm thực phẩm cho chuyến đi. Ba người trong nhóm sẽ phân công như thế này: một người cung cấp một con gà con, một người góp gạo và một người nuôi. Còn nhớ nhóm của tôi năm đó gồm tôi, Thúy Lam và Hương Giang. Mẹ Thúy Lam cho một chú gà con xinh xắn, tôi góp gạo và để gà nuôi ở nhà Hương Giang. Cuối năm học, tất cả những con gà của các nhóm đã lớn, thầy gửi cho một nhóm làm bếp chế biến sẵn để cả lớp mang theo. Chuyến đi năm ấy thật vui. Tôi hiểu thế nào là gió Lào cháy bỏng của vùng đất Quảng Trị, tôi được lội suối, trèo rừng, tiếp xúc với đồng bào dân tộc thiểu số, xem những em bé ngủ say trên lưng mẹ khi lên nương, tận mắt nhìn thấy đường Trường Sơn lịch sử... Đêm hội trại mọi người đốt lửa, có một chị học sinh cũ của thầy đi theo đoàn biểu diễn đàn tranh, mọi người ca hát, vui chơi và kể chuyện, sau đó chén thịt gà, cảm giác ngon kinh khủng. Nhưng hình ảnh lắng đọng lại nhiều nhất trong trái tim non nớt của tôi lúc ấy có lẽ là những giọt nước mắt của cô hiệu phó và con gái rớt xuống từng tấm bia khi không tìm được mộ người chồng, người cha đã ngã xuống ở chiến trường Bình Trị Thiên năm xưa.

Bài học về sự tự tin

Có một câu chuyện rất nhỏ, lẫn lộn trong những câu chuyện nhỏ hằng ngày mà sao tôi nhớ vô cùng. Có một lần, thầy ra một bài toán với hai đáp án và bảo học sinh chọn đáp án đúng.

Thầy gọi M.H. – một bạn học lực không được khá lắm – và bảo đưa câu trả lời. Khi M.H. trả lời đúng, thầy nghiêm giọng (gần như quát): “Chắc không?”

Cô bạn lúng túng, ngay lập tức sửa lại câu trả lời. Thực ra bài toán không khó, rất nhiều người trả lời được nhưng sau câu nói của thầy thì đâm ra hoang mang. Lúc bấy giờ thầy mới từ tốn nói: “Câu trả lời đầu tiên chính là câu trả lời đúng. Tại sao lại bị lung lạc vì ý kiến chủ quan của người khác? Nếu mọi ngươi tin chắc rằng mình đúng thì hãy khẳng định chính kiến của mình. Không kiêu căng, không tùy tiện, nhưng phải biết tự tin vào bản thân.”

Có lẽ trên đường đời cũng có lúc thấy lòng dao động, nhưng lời dặn của thầy năm xưa khiến tôi luôn ghi nhớ trong lòng: “Phải tự tin vào bản thân”.

22 năm đã trôi qua với nhiều năm xa nhà, tôi vẫn không quên người thầy già tóc bạc có tấm lòng bao la. Ngày xưa, vào dịp 20/11 và lễ tết, tôi vẫn thấy những người học trò đã lập gia đình, có con lớn gần bằng chúng tôi vẫn đến thăm thầy giáo cũ, chỉ là để hỏi thăm sức khỏe, uống chén trà nóng và ôn kỷ niệm xưa. Tôi hiểu tấm lòng người thầy đã mãi mãi khắc sâu trong tâm trí họ: giản dị mà đầy yêu thương. Bây giờ thầy tôi đã ngoài 70 tuổi rồi. Bạn bè tôi ở Huế thỉnh thoảng vẫn đến thăm thầy, những đứa ở xa như tôi chỉ biết gửi gắm những lời tri ân và tự nhủ lòng: “thầy ơi, chúng con đã thực sự lớn lên từ thuở ấy”.

LẤP LÁNH NHỮNG TRANG VĂN

Văn là sáng tạo

Cô giáo chủ nhiệm tôi năm lớp 6, đồng thời dạy văn lớp tôi năm lớp 6 và lớp 7 cũng để lại trong tôi những kỷ niệm khó quên.

Nhà cô giáo rất nghèo, nghèo đến mức thuở đó tôi chưa từng được chứng kiến ai nghèo như vậy, dù chồng cô là một người có gốc gác hoàng tộc. Nhưng khi cô đứng trên bục giảng, chúng tôi chỉ thấy đó là một phụ nữ hiền dịu và mạnh mẽ, có giọng nói miền Nam ngọt ngào, ấm áp và lối giảng văn rất cuốn hút. Chính cô và cả thầy Duy (thầy chủ nhiệm năm lớp 5 mà tôi đã đề cập ở trên) là người đã thổi vào tâm hồn chúng tôi những trang văn đẹp đẽ, lối suy nghĩ sáng tạo, không sáo mòn và cả những ước mơ bay bổng. Các nhân vật văn học qua ngòi bút của chúng tôi trở nên có sắc màu riêng, và cô đặc biệt đề cao những cảm nhận riêng đó. Cô có một đứa con trai học cùng lớp chúng tôi những năm cấp II. Tôi còn nhớ ngày xưa bạn bè trong lớp vẫn ghép đôi tôi với cậu bạn đó, đơn giản chỉ vì cô hay gọi tôi phát biểu trong giờ học. Cô cũng thong thương tổ chức cho cả lớp đi tham quan. Có một lần chúng tôi đi chơi lăng Tự Đức bằng xe đạp, cô bạn chở tôi đã thắng xe quá đột ngột khi xe lao xuống dốc làm cả hai đứa ngã nhào xuống đường, trầy xước hết chân tay mặt mũi. Cô đã đến tận nhà chúng tôi tìm gặp ba mẹ để nói lời xin lỗi, mặc dù lỗi là ở đứa bạn tôi đã không nghe theo lời hướng dẫn của cô.

Cô có một lối dạy học tự nhiên và độc đáo khiến chúng tôi rất thích, có lẽ không bị bó buộc vào một sách hướng dẫn nào cả. Sau mỗi tác phẩm văn học, chúng tôi được đề nghị kể lại câu chuyện theo cách riêng của mình, qua đó thực hành luôn kỹ năng “nói trước công chúng” . Chúng tôi cũng được khuyến khích vẽ lại những bức tranh theo tưởng tượng riêng sau khi học văn – những bức vẽ không nhất thiết phải quá trau chuốt và đẹp đẽ nhưng phải có hồn và có ý để người xem có thể “cảm” và “tưởng”.

Văn là cuộc sống

Nói chuyện văn chương tự nhiên như hơi thở, đó là cô Lan Phương dạy văn tôi năm lớp 9. Thực ra cô chỉ dạy tôi trong một thời gian rất ngắn, vì cô không giảng chính thức ở lớp mà chỉ tham gia giảng cho đội tuyển HSG. Tôi còn nhớ cô có lối giảng Kiều rất lạ với giọng Bắc truyền cảm, thậm chí đem cả tác phẩm sân khấu của nghệ sĩ Bạch Tuyết ra phân tích và tôi thừa nhận cô nói thật hay dù tôi cực ghét xem cải lương. Có lẽ hiếm thầy cô giáo nào lớn tiếng “Kiều là một con điếm” ngay trên bục giảng như cô, vậy mà cô vẫn có cách làm cho nhân vật của mình đẹp đẽ hơn, lung linh hơn. Tác phẩm Truyện Kiều được đem ra mổ xẻ trong nhiều khía cạnh của cuộc sống, từ những hình ảnh rất đời thường được nhân cách hóa để gửi gắm ngụ ý sâu xa. Lên lớp 10, có một lần cùng bạn ra chợ mua thức ăn, đang đứng giữa mấy hàng rau thì ai đó vỗ vai tôi. Tôi quay lại thì thấy cô cũng xách làn đi chợ. Cũng không ngờ là cô còn nhớ rõ tôi như thế. Cô trò chúng tôi kéo nhau vào một góc, cùng nhau bình luận hình ảnh nhân vật chính bấm chuông ở cuối bộ phim “Khát vọng” như muốn mở ra một cánh cửa mới của cuộc đời.

“Văn là cuộc sống”. Tôi cũng nghĩ như cô. Nếu cuộc sống không có văn chương, hẳn là sẽ tẻ nhạt lắm.

Văn là người

Văn là người, vì thế hãy thận trọng với từng nét bút đặt xuống. Tất cả các thầy cô giáo đã từng dạy văn tôi, dù là dạy chính khóa hay dạy đội tuyển, đều gửi gắm đến học trò thông báo đó. Ngày ấy, cuộc sống khó khăn biết bao nhiêu. Các thầy cô giáo ngoài giờ lên lớp vẫn phải làm đủ thứ việc để kiếm thêm thu nhập, nhưng tôi vẫn bắt gặp đâu đó giữa đời thường những tâm hồn rất lãng mạn. Cô giáo Quỳnh dạy đội tuyển Văn 12 của tôi có cả một bộ sưu tập hoa lá ép khô đầy chất nghệ thuật. Những tác phẩm của cô mang sắc màu cuộc sống vô cùng sinh động, là nơi gửi gắm tâm tình và hồn thơ. Ngày còn học cô, chúng tôi được xem tận mắt những tác phẩm ép công phu và nghe cô giảng về “công nghệ” ép hoa lá, dù không nhớ lắm. Sau này ra trường rồi, đọc những bài báo giới thiệu cô là người làm tranh bằng hoa lá khô đầu tiên ở VN, rồi xem những triển lãm tranh của cô ở mọi miền đất nước, lại thấy nhớ ngày xưa ngồi ở một căn phòng tầng 2 bên dãy phải trường Quốc Học, nghe lời cô giảng trong mê say, quên cả một mảng trời hồng của hoa điệp anh đào mùa xuân ngoài cửa sổ.

“Văn là người”. Không biết cô Thanh Quế - giáo viên văn và chủ nhiệm đội tuyển Văn 12 của tôi nghĩ gì khi đọc những bài viết của tôi mà bảo rằng: “Sau này N. hợp nhất là nghề sư phạm”. Thế nhưng cuối cùng tôi đã không theo nghề sư phạm, một chút lỗi hẹn với cô chăng? Cô từng cầm bàn tay tôi và các bạn để đoán “số phận” từng đứa. Cô nói về tính cách và định hướng của chúng tôi khá chính xác. Cô biết xem bói ư? Không, cô bói từ những trang văn.

“Văn là người”. Thế nên một thuở học trò chúng tôi được tự do sống với những yêu ghét của mình, được phán xét tác phẩm là hay, là dở theo cảm nhận riêng mà không sợ bị điểm thấp. Bây giờ, nghe những câu chuyện về “bài văn mẫu”, về cái sự bon chen thành tích khiến những trang văn của trẻ nhỏ trở nên gò bó, rập khuôn, tôi lại nhớ về những người thầy cô giáo năm xưa. Họ đã dạy tôi rằng văn là người, mà mỗi người mỗi bản sắc, mỗi cá tính, có thế mới tạo ra nét đẹp riêng của bản thân mình.

TOÁN HỌC: SÁNG TẠO HAY TƯ DUY?

Tôi muốn viết về một người thầy đã dạy toán tôi cả ba năm lớp 10, 11 và 12: thầy N.V.D.

Thực ra, trước khi học chúng tôi đã biết tiếng thầy qua… con thầy (không phải là con thầy kể chuyện về thầy, mà lũ học trò vẫn biết đến thầy như người cha của cô con gái học giỏi). Con gái út của thầy học cùng khóa với tôi – một cô bạn chuyên Toán đẹp người, đẹp nết, học giỏi, khi chúng tôi học lớp 9 thì bạn là học sinh danh dự toàn tỉnh. Sau này tôi mới biết là tất cả các con của thầy dù trai hay gái đều học giỏi, đoạt nhiều giải thưởng quốc gia và quốc tế. Thầy cũng là một thầy giáo giỏi chuyên môn và còn viết sách. Điều mà tôi học được nhiều nhất ở thầy, ứng dụng cho đến ngày nay, có lẽ “think outside the box” (suy nghĩ vượt ra ngoài khuôn khổ), mà điều này thể hiện rõ nét nhất ở môn hình học không gian. 


Thầy có lối sống giản dị, thương học trò như con và tâm huyết với nghề. Nhà thầy ở tầng II một khu chung cư cũ gần dốc Phú Cam. Cũng từ dãy nhà này năm xưa, Trịnh Công Sơn hàng ngày vẫn nhìn bóng Diễm thướt tha đi về dưới hàng cây long não mà viết những dòng nhạc đi vào lòng người, và là nơi Hoàng Phủ Ngọc Tường ấp ủ những trang văn. Cho đến những năm đại học, chúng tôi trở về thăm thầy nhân ngày nhà giáo, vẫn thấy vợ chồng thầy sống hạnh phúc ở căn nhà cũ đó, còn những đứa con đã đi làm, đi học tận trời Tây. Những ngày dạy chúng tôi, thầy bị viêm xoang. Mùa đông đến kéo theo mưa dầm và gió buốt là lúc cái “mũi Tây” của thầy bị hành hạ. Anh chàng Bí thư Chi đoàn lớp tôi mê con gái thầy (dù không cùng lớp vì cô kia học chuyên Toán), ngồi trong giờ học cứ vẩn vơ viết ba với con, nhưng hắn luôn là đứa giỏi toán nhất lớp nên vẫn được thầy cưng.

Thầy không có lối giảng hấp dẫn, thậm chí bị đánh giá là khô khan, nhưng lời giảng sâu và đặc biệt luôn thách thức học trò phải suy nghĩ. Lớp tôi thiên về tự nhiên nên nhiều bạn giỏi toán, thầy cũng đòi hỏi cao hơn các lớp khác. Chúng tôi học toán với tinh thần “toán học là tư duy”.

Thầy lại bảo toán học còn là sáng tạo. Tính cách thầy không bay bổng, nhưng thầy lại khuyến khích những lời giải hay và giàu óc tưởng tượng, bởi lẽ toán học không đơn giản chỉ gói gọn trong những con số. Thế hệ chúng tôi học công thức toán qua những câu thơ cho dễ nhớ, và tìm niềm đam mê toán qua âm nhạc. Sau này tôi phát hiện ra những người có tư duy âm nhạc cũng thường có tư duy toán học.

Tôi thừa nhận toán học đòi hỏi cả sáng tạo lẫn tư duy.

Thầy cho điểm khá khắt khe. Lớp chúng tôi thi đại học, không ít bạn đạt điểm 9, điểm 10 môn Toán, nhưng kiếm được điểm 7 của thầy trong bài kiểm tra ở lớp thì thật là “chua”. Có lẽ chịu khổ quen nên đến các cuộc thi học kỳ dùng đề chung toàn trường, lớp chúng tôi làm khá dễ dàng.

Rồi một buổi chiều bắt đầu thoáng chút se lạnh đầu mùa và gió thổi những chiếc lá tung bay trên vỉa hè, ngồi trong văn phòng mát dịu ở lầu 5 nhìn ra trời Sài Gòn trong veo màu nắng, chợt lòng rưng rưng nhớ về một màu nắng rất xưa bên ô cửa phòng 18, hắt cả lên cặp kính trắng và khiến cả nét phấn vẽ hình học không gian trên bảng xanh cũng nhuộm màu vàng mơ. Sao nhớ quá một thời cắp sách, ngồi đố vui qua những ẩn số phương trình.
18.11.2008 

Những trò chơi quái gở

Hồi học đại học, bọn mình có một số trò chơi rất quái trong những lần tụ họp mà giờ nghĩ lại vẫn thấy buồn cười.

Trò thứ nhất là ghép tên kèm một tính từ láy phải có chữ cái đầu trùng khớp, ví dụ: Linh lanh lợi, Thanh thật thà… Bắt đầu là một đứa khởi xướng, đến tên đứa nào thì đứa đó phải đọc ngay một đứa khác và cứ thế luân phiên nhau. Tên thì có thể dùng lại, nhưng những tính từ đã dùng rồi thì không được dùng lại nữa. Đếm từ 1 đến 10 mà không đứa nào đọc tiếp được thì đứa ấy phải chịu phạt: đứng dậy đi mua bánh kẹo cho cả lớp ăn.

Tất nhiên là lũ quỷ sứ chúng tớ chỉ dùng những tính từ quái chiêu thôi, ví dụ sẽ không nói Linh lanh lợi mà là Linh lì lợm, Linh láo lếu… Cuộc chơi diễn ra vui vẻ và không kém phần căng thẳng vì ai cũng phải cố nghĩ ra những tính từ chưa được dùng để ghép vào tên (chẳng ai cam tâm bỏ tiền ra mua bánh kẹo cả), nhất là càng về sau càng căng thẳng.

Một đứa sau khi bị ghép tên, đến lượt mình phải đọc tên đứa khác, theo phản xạ nói luôn thằng bên cạnh: “Lân…”, nhưng nó không nghĩ ra thêm từ nào mới chưa được dùng nên tịt luôn. Cả lớp bắt đầu đếm, con nhỏ này cuống lên, đọc đại: “Lân lủng lẳng”. Cả lớp cười ầm ĩ, có đứa đề xuất: “Đề nghị giải thích rõ là thằng Lân lủng lẳng cái gì?”

Một đứa khác rơi vào tình huống tương tự, nói luôn: “Mai méo mó”, cả bọn lại cười và vặn vẹo: “Sao biết của nó méo?”

Đến lượt con Qui, nó chỉ luôn thằng Toàn và đọc: “Toàn tàn tật”, thằng Toàn đốp lại: “Qui què quặt”, con Qui không vừa: “Toàn teo tóp”, thằng kia không tha: “Qui quỷ quyệt”…

Trò thứ hai là mỗi đứa cầm một mẩu giấy, viết tên một đứa con trai bất kỳ trong lớp rồi gấp lại che kín chỗ đã viết, chuyền mẩu giấy sang đứa bên cạnh. Lần thứ hai là viết tên một đứa con gái bất kỳ trong lớp rồi lại chuyển sang bên cạnh, lần thứ 3 là viết câu nói của người con trai, lần thứ 4 là câu nói của người con gái và cũng gấp lại chuyền nhau như thế. Khi xong xuôi, mỗi đứa thả tờ giấy vào cái hộp của lớp trưởng để công bố kết quả. Như vậy trên mỗi tờ sẽ có tên 1 người con trai, 1 người con gái, câu nói của người con trai và của người con gái, tất cả đều do những người khác nhau viết một cách bí mật và ngẫu nhiên. Cũng có những câu đối đáp rất tréo ngoe, nhưng cũng có những câu phù hợp lạ lùng. Trong một dịp chơi Noel lớp mình cũng chơi trò này, và sau đây là mẩu giấy được bình chọn là thú vị nhất:

- Người con trai: Cường
- Người con gái: Yến
- Cường: I love you. Anh muốn “mi” em thật nhiều.
- Yến: Trong đôi mắt em anh là con khỉ!
 

Thứ Hai, 6 tháng 9, 2010

Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò

1. Hội thi học sinh thanh lịch

Năm mình học lớp 11 thì trường tớ tổ chức cuộc thi “Học sinh thanh lịch”, mỗi lớp cử vài đại diện tham gia. Đến ngày thi, những đứa không tham gia (chiếm đại đa số) hóng hớt đến xem để cổ vũ và bình luận. Lớp mình thì bao giờ cũng khét tiếng là ăn chơi và quậy phá, dù là lớp A – tuyển chọn toàn học sinh được chuyển thẳng và thi cấp 3 điểm cao. Bọn mình cổ vũ thì ít mà chọc ngoáy thì nhiều, nhất là thấy em nào tỏ ra mất bình tĩnh. Đến phần thi ứng xử, một em bắt được câu hỏi, đại loại là hãy đọc mấy câu đầu trong bài thơ “Hương thầm” của Phan Thị Thanh Nhàn. Em này đang lúng túng cố nhớ ra thì bọn khán giả phá đám, hét vọng lên sân khấu: “Cao cao bên cửa sổ, có hai người hôn nhau”.

Tội nghiệp em gái, đang lúng túng, nghe loáng thoáng từ “cửa sổ” thế là bật ra nói như cái máy: “Cao cao bên cửa sổ…”, cả hội trường cười ầm ĩ.
Một em khác bắt được câu hỏi: “Nếu bố mẹ em cấm đoán quan hệ giữa em và người yêu em thì em sẽ làm gì?” Em gái đang bối rối (chắc là vì còn nhỏ, chưa yêu bao giờ ) thì cả đám tiểu yêu bên dưới lại hét lên: “Một sợi dây thừng, một chén thuốc độc, một… gói quần áo”. Ủa, đã dây thừng với thuốc độc thì còn đem theo gói quần áo làm gì vậy kìa? Xin thưa, nhỡ đến lúc chuẩn bị chết mà thấy nhụt chí quá thì thôi rủ nhau trốn đi vậy.

Báo hại em gái dự thi trên kia đang lúng túng lại càng run thêm, đứng ngẩn tò te như ngậm hột thị.

2. Nhổ cỏ vườn sinh vật

Trường trung học của mình có rất nhiều hoa và cây xanh. Cây thì đủ loại, từ cây cảnh, cây ăn quả đến cây cổ thụ, lúc nào trong trường cũng rợp bóng mát và ngập đầy sắc hoa, đã bảo là “ngôi trường sinh thái” mà lại.

Trong trường có một cái vườn gọi là “vườn sinh vật”. Trong thời khóa biểu học tập của bọn mình thì có giờ lao động, nhưng thực tế thì học sinh chả có việc gì làm. Vệ sinh trường thì đã có lao công làm cho sạch, cắt xén cỏ cây cũng có thuê người chuyên làm việc đó…, tóm lại chỉ còn một việc rất cỏn con là nhổ cỏ ở vườn sinh vật, chia ra cho rất nhiều lớp.

Theo chương trình thì mỗi lớp sẽ lao động một buổi mỗi tuần, các lớp luân phiên làm những buổi khác nhau trong tuần, công việc chỉ xoay quanh cái vườn ấy. Thế thì cỏ đâu ra lắm thế mà nhổ? Để cầm chừng, thầy giáo chủ nhiệm cho bọn mình mỗi tuần chỉ một tổ lao động thôi, nghĩa là mỗi cá nhân cứ một tháng mới có một buổi đi nhổ cỏ. Cứ đến giờ nhổ cỏ là cả bọn túm lại nói đủ chuyện trên trời dưới biển, tay thì vặt mấy cọng cỏ qua loa lấy lệ, thậm chí chỉ vặt mỗi ngọn. Cuối cùng thầy chủ nhiệm thấy ngứa mắt quá, bảo: “Nhổ cỏ không nhổ tận gốc thì nhổ làm gì?”

Bọn mình liền đáp: “Ơ, tụi em tưởng chỉ nên vặt ngọn thôi, phải để gốc lại cho nó còn mọc, lớp khác mới có việc để làm chứ. Bây giờ nhổ tận gốc thì lấy đâu ra việc mà lao động nữa ạ?”

Cả đám cười rầm rầm, rồi cứ nghĩ thế nào thầy cũng la cho một trận, không ngờ thầy cười rồi gật gù: “Nói có lý!” 

3. Hội trại lớp 12 

Như thường lệ, cứ đến dịp 26-3 là trường lại tổ chức cắm trại ở biển. Năm đó trời lạnh khủng khiếp, lại còn có dự báo bão nên nhà trường quyết định không cắm trại nữa. Trời ơi, đời học sinh cả năm chỉ mơ có một lần cắm trại để vui chơi thỏa thích, nghe tin này khác nào sét đánh ngang tai! Thế là học sinh các lớp đồng loạt kiến nghị nhà trường cho tổ chức hội trại. Các thầy cô ban giám hiệu cũng mủi lòng, lại thấy thời tiết có vẻ khá dần lên nên cuối cùng đồng ý cho cắm trại, nhưng vẫn thòng thêm một câu là nếu thời tiết có diễn biến xấu thì phải lập tức nhổ trại.

Híc, trời lạnh căm căm, gió thổi ầm ầm, biển cuộn sóng đen ngòm, vậy mà hàng đoàn học sinh vẫn kiên trì mặc áo lạnh, đạp xe 12 cây số đến bờ biển để cắm trại, lớp này lớp kia trêu ghẹo nhau vui không thể tả. Nhưng niềm vui kéo dài không được lâu, đài lại báo bão sắp đổ về, thế là qua một đêm nhà trường thông báo tất cả các lớp phải nhổ trại về nhà ngay trong đầu buổi sáng.

Buồn bã, nhưng vẫn chưa hết máu ăn chơi, 2/3 đội quân 12A kéo nhau về nhà cậu lớp phó học tập tên Tam gần biển để… cắm trại trong nhà. Cũng nấu nướng, tán phét, bình phim Hồng Lâu Mộng và hò hét như điên.

Mình còn nhớ có mấy cái giường, đứa nào nhanh chân thì tranh được chỗ để leo lên ngồi đắp chăn cho ấm. Mình, Quỳnh Anh và Diệu Hạnh cũng chen lên được một cái giường như thế, ngồi dựa lưng vào tường, chân giấu trong đống chăn ấm và tán dóc. Một lát, cô bạn Lý từ dưới bếp chạy lên hỏi:

- Có ăn bánh chưng chiên không?

Cả ba đứa nhất loạt gật đầu. Việt – tên lớp trưởng đang đứng chải đầu trước gương – vội quay lại la lên:

- Trời ơi, tui thán phục cái đức ham ăn của mấy bà quá. Nhìn vô gương thấy cả ba cái đầu vừa nghe hỏi có ăn không là gật cái rụp liền!

Hehe...

4. Giờ kiểm tra một tiết môn lịch sử

Vào học kỳ II lớp 12, tình hình học lệch diễn ra ngày càng trầm trọng do sắp đến kỳ thi đại học. Lớp 12A bọn mình khoảng 70% dân số thi khối A, 20% thi khối D và 10% còn lại thi khối B, chẳng ai thi khối C cả nên có thể nói những môn sử, địa tất cả đều lơ là. Giờ kiểm tra các môn này lũ quỷ thường ít khi học đầy đủ mà chia bài ra học hoặc táo tợn hơn là quay phim. Hôm nọ vào giờ kiểm tra 1 tiết môn sử, cả lớp ai biết phận nấy, im lặng làm bài, ai có thủ thuật gì thì cứ tự tiện sử dụng, người biết cũng không tố giác. Thầy giáo thì rảo quanh cả lớp để “kiểm tra an ninh”.

Cả lớp đang im phăng phăng như thế thì bỗng nghe đánh xoạch một tiếng. Tất cả đều quay lại nhìn và phá lên cười khi thấy một quyển sách lịch sử nằm chễm chệ giữa sàn nhà ở dãy bàn thứ hai bên trái, thầy giáo cũng không nhịn được cười. Thì ra cái ngăn bàn này bị gãy một nửa. Thân chủ phải để cuốn sách hờ hững ở nửa hộc bàn ấy và đè cái cặp lên trên để quay bài. Khi thấy thầy giáo đến bên, cậu ta luống cuống quá quên mất nửa ngăn bàn phía trong trống không, mới đẩy vội cuốn sách vào và thế là xảy ra… án mạng.

Mình còn nhớ đây là giờ sử của thầy Thiều, còn thủ phạm là một tên ngồi bàn sau lưng mình. Bàn này gồm Tam, Miên, Huy, Trí. Tam và Miên thì không phải rồi, nhưng mình không nhớ chính xác được là Huy hay Trí. Chuyện vui quá, giờ nghĩ lại vẫn cười.

Biển của một thời để nhớ

Bạn à, hẳn bạn còn nhớ những lần lớp chúng mình đạp xe về biển, nghe trong gió xuân hương lúa thơm nồng và có khi khẽ rùng mình trước cái se lạnh của nắng sớm đang loang dần theo bình minh trên phá Tam Giang – nơi các dòng sông hò hẹn. Hẳn bạn cũng còn nhớ, những chiếc xe đạp ấy lích kích chở gạo, đồ ăn, nồi niêu xoong chảo, bạt, dây và cọc… để chuẩn bị cho một hội trại tưng bừng. Hẳn bạn còn nhớ những câu chuyện vui vui bên bếp lửa của tuổi 17, và hẳn bạn cũng nhớ những lều trại đèn hoa rực rỡ san sát trong rừng phi lao xanh nhìn ra bãi biển cát vàng.
 
Chiều Thuận An với đôi ngựa tâm tình bên bờ biển

Tôi biết Thuận An không đẹp, vâng, trong tận cùng sâu lắng những yêu thương tôi vẫn không thể nào không công nhận cái thực tế ấy, bởi so với những bãi biển khác của Huế như Lăng Cô, Chân Mây, Cảnh Dương, Tư Dung… thì Thuận An thiếu hẳn vẻ mĩ miều kiêu sa của bờ cát trắng phau dài thoai thoải cả chục km, thiếu những ngọn núi cao bốn mùa mây phủ, thiếu làn sương trong vắt đến tinh khôi, thiếu cả sự tĩnh lặng hoang sơ của biển vùng sơn cước…

Nhưng với tôi, Thuận An lại là biển của cả một trời kỷ niệm.

Bởi vì tôi nhớ những giọt mồ hôi của các gã trai trong lớp hì hụi dựng trại rồi giúp các bạn gái nấu ăn trong sự chỉ trỏ ghen tị của nữ nhi lớp khác. À, thì ra con trai lớp mình cũng gallant nhỉ, nhưng cũng vì con gái lớp mình có giá, đúng không nào? Anh bạn lớp trưởng đang trổ tài vặt để cua một nàng trong lớp, nên tiếng guitar và giọng hát cũng ấm áp, nồng nàn. Còn tôi và bạn, hai con nhóc nghịch như quỷ sứ, chuyên gia làm quân sư thư tình cho các đôi trong lớp, mà chẳng kịp thống kê xem hai đứa mình đã phá bao nhiêu đôi. Tôi nhớ đêm trại lớp 11, gió hôm ấy thật dịu dàng quá đỗi và biển nhẹ nhàng vỗ sóng bên bờ cát, bù cho nỗi cô quạnh của bầu trời không trăng không sao. Tôi và bạn đi xem văn nghệ của trường ngoài bãi biển rồi ghé trại lớp khác chơi và về rất khuya, sau đó lại còn nói chuyện tiếp nên không ngủ được, mắt cứ mở to nhìn trời đêm thao thức. Tôi cũng nhớ đêm trại lớp 12 năm ấy, biển động dữ dội vì có bão, cả lớp ngồi quanh đống lửa trại mà nghe tiếng gió rít ở trên đầu, để rồi sáng mai phải nhổ trại sớm mà lòng tiếc nuối chẳng muốn đi.

Tôi còn nhớ một đêm trăng mùa hạ, mười mấy đứa học trò ngồi túm tụm bên bờ biển, tưởng như sao trời đang lấp lánh trong mắt nhau. Đêm ấy trăng đẹp lắm, từ đầu buổi đã thấp thoáng sau những vòm phi lao rồi cuối cùng treo trên đỉnh trời, tỏa ánh sáng vằng vặc tan trong sóng nước. Biển rộng trời cao nên trăng dường như cũng to hơn.

Rồi kỳ thi đại học cũng qua, đẩy những cuộc hội ngộ bên bờ biển dần lùi vào kỷ niệm. Sau này những lần họp lớp toàn rơi vào dịp Tết để bạn bè ở xa có thể về sum họp, nhớ vô cùng con đường dài về biển, trời chớm hè lộng gió thoảng theo hương biển mặn nồng trong những buổi chiều tà thấp thoáng trăng non.

Và tôi viết cho bạn, cho tôi, cho tuổi hoa niên tươi đẹp bên bờ biển rì rào tiếng sóng:

Nghe bạn hát khúc tình ca của biển
Sóng trong tim theo ký ức vọng về
Trăng vẫn sáng bên góc trời lặng lẽ
Tận cùng đêm thao thức đếm mùa trôi

Xa lắm rồi những người bạn của tôi
Lửa vẫn cháy khắp một miền thương nhớ
Đêm trại vui ngày tháng ba bão tố
Biển động gió lên không át được tiếng cười

Kỷ niệm ơi, đừng tan trong khoảng lặng
Tháng năm qua vẫn nhuộm khoảng trời hồng
Điệp anh đào chớm nở cuối mùa đông
Để xuân đến rải sắc hồng vĩnh cửu

Bạn xếp cho mình chuỗi vòng bằng ốc biển
Đêm lặng thầm lấp lánh ánh sao rơi
Theo thời gian bay khắp bốn phương trời
Tuổi mười tám vẫn đi cùng mùa cũ.

Biển không đẹp, nhưng là biển của một thời để nhớ...

5.2009

Chủ Nhật, 5 tháng 9, 2010

Viết cho ngày khai trường

"Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại náo nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi không thể quên được những cảm giác trong sáng nảy nở trong lòng tôi như mấy cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu tròi quang đãng. Buối sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học." (Thanh Tịnh)

Ai đã từng qua một thời cắp sách hẳn không thể nào quên không khí của những buổi tựu trường. Với tôi, ngày khai trường luôn là một kỷ niệm đẹp. Đó cũng là ngày sinh nhật của tôi. Ngày xưa, cuộc sống còn khó khăn nên thường đến ngày khai trường và lễ tết chúng tôi mới có quần áo mới. Học sinh kéo nhau đến trường dự lễ khai giảng sau một mùa hè sôi động, sao tôi cảm thấy có cái sự nô nức nhiệt tình hơn hẳn ngày nay.

Công việc quá bận nên giờ tôi mới viết cho ngày khai trường thay vì hôm 5/9.

Tôi nhớ ngày khai trường năm lớp 1, tôi được vào học chung trường với anh chị tôi. Anh tôi - lúc ấy học lớp 4 - kéo tôi đến một gốc cây và dặn anh học ở lớp nào, nếu bị ai bắt nạt thì nhớ đến đó gọi anh. Mấy chị em chúng tôi ngày ấy vẫn tự giúp nhau đi học, khi nào ba mẹ có thể về sớm mới đón. Ngày khai trường đầu tiên, mọi thứ đều choáng ngợp và mới lạ. Đầu tháng 9 trời vẫn còn nắng lắm, hoa phượng chưa kịp tàn và bằng lăng vẫn nở khắp nơi, chẳng có cái không khí của một "buổi mai đầy sương thu và gió lạnh" của nhà văn Thanh Tịnh mà sao vẫn thấy trong lòng "có sự thay đổi lớn".

Mỗi năm đi qua trong đời học sinh là một ngày khai trường đầy kỷ niệm. Ngày khai trường của những năm đầu cấp, cuối cấp cũng là những dịp đáng nhớ, nhưng tôi nhớ nhất vẫn là ngày khai trường năm 1990. Khi ấy tôi còn là học sinh lớp 9, được đại diện cho học sinh toàn trường lên phát biểu trong lễ khai giảng. 18 năm đã trôi qua, tôi không còn nhớ ngày ấy mình đã nói những gì, chỉ nhớ rằng chiếc bục giành cho thầy cô vốn cao lắm, miệng tôi không với tới micro gắn sẵn nên đành phải tháo ra cầm tay (14 tuổi nhưng tôi vẫn còn nhí lắm). Do không có sẵn phương tiện chụp ảnh như bây giờ nên tôi không lưu lại được tấm ảnh nào. Vài tuần sau đó có dịp vào văn phòng thầy hiệu trưởng, tôi thấy có nhiều ảnh về lễ khai giảng được lồng trong khung kính, trong đó có ảnh phát biểu trước toàn trường của tôi, thèm sở hữu một tấm như thế mà không dám mở miệng xin.

Cho đến bây giờ, đã 15 năm trôi qua kể từ ngày khai trường cuối cùng của đời học sinh, (do lên đại học chúng tôi khai giảng vào ngày 15/10), tôi vẫn thấy trong tim âm vang rộn rã tiếng trống tựu trường. Ra đường phố Sài Gòn, nhìn các nữ sinh tung bay tà áo xuân thì đến lớp, lại nhớ hai hàng nữ sinh lớp 12 mặc áo dài trắng cầm hoa trên con đường từ cổng trường đến tượng đài Bác giữa sân trường Quốc Học ngày nào. Cảm xúc dẫu đã xa xưa nhưng chẳng thể nào quên.

Tháng 9 đã về mang theo một năm học mới, tôi lại nhớ những mùa thu xưa - trong sắc hè vừa đi qua và chút hương sen nở muộn, hương bắp cuối mùa, hương thanh trà ngọt thơm là mênh mang những tà áo trắng trên con đường đầy phượng bay và long não. Sài Gòn của tháng 9 mưa rơi tầm tã giữa những thoáng nắng hanh vàng, vẫn đọng lại trong đôi mắt ngây thơ của con tôi lấp lánh niềm vui ngày khai trường như tôi của tuổi học trò một thuở.
 
12.9.2008